Sunday, 25 October 2026

Giới thiên thần và quá trình chữa lành

Tác giả:  Belinda Baird and John F. Nash 

Dòng tiến hóa thiên thần (deva evolution) tồn tại song song với dòng tiến hóa nhân loại (human evolution). Các Deva tạo thành một hệ thống phân cấp khổng lồ trải dài từ những tinh linh thiên nhiên thấp bé nhất cho đến những tổng lãnh thiên thần (seraphim) hùng mạnh nhất; mức độ tâm thức của họ cũng bao trùm một phạm vi rộng lớn tương tự. Các dòng sinh mệnh deva bắt nguồn từ Khía cạnh thứ Ba của Thượng Đế và được coi là mang phân cực "âm" (nữ tính), trong khi giới nhân loại được coi là "dương" (nam tính). Phần lớn công việc của các deva dường như hướng tới việc tạo ra các hình thể nhằm thúc đẩy Mục Đích của Thánh Đoàn (Hierarchical Purpose). Vô số các cấp bậc deva đã được xác định, mỗi cấp bậc mang một sứ mệnh cụ thể trong sự vận hành của vũ trụ.

Các Deva tồn tại ở tất cả các cõi giới phía trên các cõi phụ hồng trần trọng trược. Giống như chúng ta, họ đang tiến hóa về mặt tâm thức; có thể nói các deva đang nằm trên một vòng cung đi lên. Ở chiều ngược lại, nằm trên vòng cung đi xuống (hay vòng cung thoái hóa) là các tinh linh (elementals) - những sinh mệnh nhỏ bé, chưa phân hóa, thổi hồn vào vật chất của các cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần (bao gồm cõi dĩ thái và cõi vật lý trọng trược). Các tinh linh đang đi xuống vào vật chất, trong khi các deva đang đi lên hướng về tinh thần. Trong một số tài liệu mô tả, các cấp bậc deva thấp hơn được gọi chung là "tinh linh" và được gộp vào quá trình tiến hóa deva. Tuy nhiên, theo cách sử dụng thuật ngữ trong bài viết này, "devas" chỉ tất cả các thực thể phi vật lý (phi nhân loại) nằm trên vòng cung đi lên, còn các tinh linh được xếp đúng vào một danh mục riêng biệt.

Nhà thông thiên học Geoffrey Hodson, người đã cống hiến phần lớn cuộc đời để nghiên cứu về deva, mô tả họ là “những tác nhân siêu vật lý, hiện diện khắp nơi của ý chí sáng tạo thuộc về Thượng Đế (Logos), là những vị điều phối mọi lực lượng, quy luật và quá trình tự nhiên ở cấp độ thái dương hệ, liên hành tinh và hành tinh... những trí tuệ sáng tạo, năng động và là những nhà kiến tạo hình thể của mọi tạo vật khách quan". Ông cũng đưa ra nhận xét thú vị rằng các deva “chính là hiện thân của loại năng lượng mà họ sử dụng để làm việc... nhờ đó, trí tuệ sống động của chính họ thấm nhuần vào các năng lượng này và chi phối mọi kết quả mà chúng tạo ra.”

Các lực lượng deva hoạt động như những sinh lực chủ động truyền sự sống vào bên trong mọi vật chất. Họ là những người kiến tạo hình thể và truyền dẫn prana: nguồn sức mạnh sinh lực lan tỏa khắp vũ trụ. “Mọi sự phát triển và thay đổi đều diễn ra thông qua sự sống và hoạt động của giới deva.”

Chúng ta hiểu rằng các deva được phân biệt bằng “màu sắc”. Ví dụ, Alice Bailey (người ghi chép lời Chân Sư Djwhal Khul) đã xác định “các deva tím” – thuộc cấp bậc thấp hơn thiên thần – có liên quan đặc biệt tới thể dĩ thái (etheric body) và việc truyền dẫn prana. Các gandharva, hay các deva âm nhạc, được cho là có màu trắng.

Các deva bậc thấp chưa có tự ngã thức (self-conscious). Theo bà Bailey: “Họ lớn lên và phát triển thông qua cảm nhận chứ không thông qua sức mạnh của tư duy hữu thức... Các deva tìm kiếm sự cảm nhận, trong khi con người tìm kiếm sự hiểu biết.” Tại một thời điểm nào đó trong hành trình tiến hóa, các deva đạt được biệt ngã tính (individualization) và, giống như chúng ta, trở nên có ý thức tự ngã. Các deva bậc cao có thể được xem là tương đương với các thiên thần và tổng lãnh thiên thần trong truyền thống tôn giáo phương Tây. Chúng ta hiểu rằng các deva bậc cao rất khao khát được hợp tác với chúng ta để hiện thực hóa Mục Đích Thiêng Liêng. Sứ mệnh của họ, theo lời của Hodson, “bao gồm việc chịu trách nhiệm và liên tục hỗ trợ hoặc 'thúc đẩy' các quá trình tiến hóa.”

Các thực thể deva đã được quan sát thấy tiến hành xây dựng phôi thai con người. Do đó, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng họ cũng chịu trách nhiệm cho sự phát triển liên tục từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, đồng thời đảm nhận việc sửa chữa các hình thể con người bị tổn thương - nói cách khác là thực hiện quá trình chữa lành. Dựa trên niềm tin này, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới việc thấu hiểu sâu sắc hơn vai trò của deva trong trị liệu và khám phá các phương pháp khả thi để tận dụng vai trò đó cho mục đích chữa lành. Các tác giả bài viết này đã có một thời gian thử nghiệm hướng tiếp cận chữa lành này, trong đó một người trong chúng tôi đang tìm cách vượt qua một tình trạng bệnh lý đe dọa đến tính mạng.

TIẾP XÚC VỚI GIỚI THIÊN THẦN

Chúng ta được biết rằng các deva luôn phụng sự nhân loại. Người nguyên thủy không nghi ngờ gì nữa có thể nhìn thấy các deva ở cõi dĩ thái hoặc cõi trung giới, làm nảy sinh các truyền thuyết về tiên nữ trên toàn thế giới. Với sự phát triển của trí tuệ và sự suy giảm tương ứng của các khả năng ngoại cảm bậc thấp, ngày nay các deva chỉ có thể được nhìn thấy bởi những người có năng khiếu thấu thị (nhãn thông). Chúng ta hiểu rằng sự "mù lòa" tạm thời này đã được Thánh Đoàn Hành Tinh (Planetary Hierarchy) cố ý sắp đặt để cho phép nhân loại tập trung vào sự phát triển trí tuệ. Nó cũng có thể được sắp đặt vì sự an toàn của chính chúng ta.

Tuy nhiên, các kinh sách của đạo Do Thái, đạo Cơ Đốc và đạo Hồi đều ghi lại những chuyến viếng thăm của các thiên thần, thường đóng vai trò là những sứ giả. Thực tế, từ "angelos" trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "sứ giả". Tổng lãnh thiên thần Michael được nhắc đến mười lăm lần trong kinh thánh, và Gabriel bốn lần. Lần xuất hiện nổi tiếng nhất của Tổng lãnh thiên thần Gabriel là với Zacharias và Mary để tiên báo về sự ra đời của những người con trai họ. Gabriel cũng đã xuất hiện trước Mohammed. Triết gia học thuyết Tân-Plato người Syria vào thế kỷ thứ năm, được biết đến với tên gọi Pseudo-Dionysius, đã đề xuất hệ thống phân cấp gồm chín "phẩm" (choirs) thiên thần, trở thành nền tảng của thiên thần học Cơ Đốc giáo. Nhà thần bí thời trung cổ Hildegard of Bingen thừa nhận rằng "đoàn thiên thần vĩ đại" chỉ hiếm khi được nhìn thấy. Nhưng bà cũng lưu ý rằng "những thiên thần khác, những vị tiếp xúc với con người, sẽ hiện ra trước chúng ta dưới những hình thức nhất định tùy theo ý muốn của Thượng Đế". Thomas Aquinas đã thảo luận về sự tồn tại của các thiên thần hộ mệnh. Các thiên thần hộ mệnh, hay thái dương thiên thần (solar angels), được thảo luận chi tiết hơn trong các tài liệu nội môn. Thái dương thiên thần của chúng ta được tin là chịu trách nhiệm dàn xếp chuỗi các kiếp luân hồi của chúng ta và thúc giục chúng ta tiến lên trên con đường tiến hóa.

Sự nhận thức về các sinh mệnh deva hiện nay dường như đang ngày càng gia tăng. Vô số trường hợp nhìn thấy đã được ghi chép lại trong các tài liệu, và có lẽ còn nhiều người hơn nữa đã cảm nhận được sự hiện diện của họ. Alice Bailey giải thích rằng thông qua thiền định và các nghi lễ, con người đang trở nên "nhạy cảm hơn với những hình ảnh và âm thanh của các cõi nội giới... Họ nhìn thấy các deva... họ bắt được một âm thanh hay một giọng nói truyền đạt những chân lý mà họ nhận ra là sự thật".

Khi chúng ta bước vào Thời Đại Bảo Bình, và Cung Bảy Trật tự Nghi lễ bắt đầu biểu lộ, sự nhạy cảm của con người sẽ gia tăng: "Sẽ có nhiều đứa trẻ ra đời với khả năng nhìn bằng nhãn quan dĩ thái dễ dàng như cách người bình thường nhìn bằng nhãn quan hồng trần; khi các điều kiện hài hòa dần dần nảy nở từ sự hỗn loạn của thế giới hiện tại, deva và con người sẽ gặp gỡ nhau như những người bạn".  Những cuộc chạm trán - ít nhất là với các deva bậc cao - được mô tả bằng những ngôn từ tích cực nhất, giúp nâng cao tâm thức của những người may mắn có được trải nghiệm này. Niềm vui, vẻ đẹp và tình yêu là một số từ ngữ miêu tả thường được sử dụng. Tuy nhiên, văn hóa dân gian về các tiên nữ cho thấy rằng hầu hết các deva bậc thấp đều tinh nghịch và thích đùa giỡn, trong khi một số khác có thể xấu xí và mang ác ý.

Các tinh linh thiên nhiên được cho là có thể được nhìn thấy tương đối dễ dàng ở những vùng nông thôn hoang sơ. Việc tiếp xúc ở các khu vực phát triển có thể ít thường xuyên hơn vì những deva này luôn cảnh giác với các hoạt động của con người. Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, họ có thể hợp tác để tạo ra những thay đổi hoặc sự cải thiện phi thường đối với trật tự tự nhiên. George Washington Carver được cho là đã trò chuyện với các tinh linh thiên nhiên trong quá trình nghiên cứu cải thiện các giống rau củ. Tại Cộng đồng Findhorn ở Scotland, người ta đã tìm kiếm sự hợp tác của deva để trồng rau và hoa trên vùng đất bán khô cằn và, ít nhất là trong giai đoạn đầu, họ đã giúp chúng phát triển với kích thước lớn hơn bình thường rất nhiều. Alice Bailey giải thích rằng các deva có trách nhiệm đặc biệt đối với giới thứ hai trong tự nhiên (giới thực vật): "Các thiên thần và deva đối với giới thực vật cũng giống như Thánh Đoàn Tinh Thần đối với nhân loại".

Nhận thức về sự hiện diện của deva dường như cũng rất phổ biến tại các đền thờ tự, đặc biệt là trong các nghi lễ tôn giáo có sự phức tạp về mặt hình thức và/hoặc mang lại cảm xúc mạnh mẽ. Bailey nhận xét: "Hoạt động của cõi trung giới đang được tăng cường mạnh mẽ, và các thiên thần của sự sùng kính, nơi mà khía cạnh tình yêu thiêng liêng chiếm ưu thế, đang làm việc với thể cảm dục của tất cả những ai đã sẵn sàng để củng cố và định hướng lại khát vọng cũng như mong muốn tâm linh của họ. Họ chính là những thiên thần đang canh giữ thánh đường của tất cả các nhà thờ, thánh đường lớn, và đền thờ trên toàn thế giới".

Nhà khoa học tâm linh người Slovenia Marko Pogačnik đã báo cáo về việc nhìn thấy một thiên thần và một nhân vật có hình dáng giống Chúa Jesus lơ lửng phía trên bàn thờ tại một nhà nguyện ở Venice. Charles Leadbeater, một nhà Thông thiên học và là giám mục của Giáo hội Công giáo Tự do (Liberal Catholic Church), đã mô tả sự tham gia của các thực thể thiên thần trong Thánh lễ, trong đó vị quan trọng nhất là Thiên thần Thánh thể (Angel of the Eucharist). Ông cho biết, vị thiên thần này sử dụng tình yêu và lòng sùng kính của những người dự lễ để xây dựng một hình tư tưởng (thoughtform) sống động bao trùm toàn bộ thánh đường. Âm nhạc góp phần làm tăng thêm cường độ của quá trình này: "đưa vào hoạt động một tập hợp các lực lượng hoàn toàn mới, một khía cạnh khác của Tự nhiên, và kết nối một nhóm lớn các Thiên thần Âm nhạc vĩ đại đồng hành cùng chúng ta trong công việc".

Geoffrey Hodson đã quan sát thấy sự xuất hiện của các deva tại các buổi biểu diễn những tác phẩm âm nhạc cổ điển nổi tiếng, bao gồm bản thánh ca Agnus Dei, giai điệu truyền thống Greensleeves, bản Trumpet Voluntary của Jeremiah Clarke, Prelude in C Sharp Minor của Johann Sebastian Bach, Ave Maria của Franz Schubert, và Pie Jesu trích từ bản Requiem của Gabriel Fauré.

Nhạc sĩ kiêm nhà thông thiên học Cyril Scott cho rằng các nhà soạn nhạc đã được truyền cảm hứng để diễn tả đời sống cũng như sự chuyển động sống động của các deva và các tinh linh thông qua âm nhạc. Các nghiên cứu của ông đã trích dẫn trường hợp nhà soạn nhạc người Na Uy Edward Grieg như một người trung gian kết nối giữa các tinh linh thiên nhiên và nhân loại. Tác phẩm The Entrance of the Little Fauns được cho là khắc họa tiêu biểu hình ảnh của các thần lùn (gnomes) và các tinh linh đất ở trạng thái nguyên thủy của chúng. Scott nhận định nhà soạn nhạc người Nga Alexander Scriabin là "đại diện vĩ đại nhất của Âm nhạc Deva từng được sinh ra cho đến nay". Chân Sư Kuthumi cũng được cho là thường giao tiếp với các gandharva (deva âm nhạc) thông qua tiếng đàn organ của ngài.

KIẾN TẠO VÀ SỬA CHỮA HÌNH THỂ CON NGƯỜI

Việc tạo ra các hình dạng sống đòi hỏi sự hợp tác của các deva ở nhiều cấp độ tâm thức và năng lực khác nhau. Các deva bậc cao giám sát các deva bậc thấp hơn trong một hệ thống phân cấp về thẩm quyền và trách nhiệm. Những sinh mệnh ở vị trí thấp trong hệ thống này, được gọi là "deva kiến tạo" trong các tài liệu nội môn, "làm việc một cách gần như vô thức trong nhóm của họ, để tạo ra vô số hình thể cần thiết cho sự sống đang tiến hóa". Họ đóng vai trò phù hợp của mình một cách bản năng hoặc bị cuốn vào hành động bởi các "chị em" (deva) bậc cao hơn. Các tinh linh (elementals), thông qua chính bản thể của chúng, cung cấp các nguyên liệu thô.

Quá trình này có thể được ví như một dự án xây dựng. Một kiến trúc sư thiết kế tòa nhà và giám sát công việc của nhà thầu chính. Đổi lại, nhà thầu chính sẽ thuê các nhà thầu phụ chuyên môn để dựng khung thép hoặc gỗ, đổ bê tông, xây gạch, ốp vách, lắp đặt hệ thống điện nước, v.v. Ở dưới cùng của hệ thống phân cấp là những người lao động công nhật, họ có thể không mấy quan tâm đến dự án nhưng bị cuốn vào guồng công việc - được thuê - khi cần thiết.

Geoffrey Hodson đã sử dụng khả năng thấu thị của mình để miêu tả hoạt động của deva trong quá trình phát triển của thực vật. Những deva kiến tạo nhỏ bé giúp hạt giống nảy mầm. Sau khi họ hoàn thành công việc, các nhóm thợ kiến tạo bậc cao hơn lần lượt tiếp quản để đưa cái cây phát triển đến mức trưởng thành. Hodson nhận xét về vai trò của âm thanh trong quá trình phát triển này: Mọi kiểu phát triển, dù là ở thân, chồi, lá hay hoa, dường như đều có một nốt nhạc hay tiếng gọi riêng, mà "nhà kiến tạo" tinh linh tự nhiên phù hợp phải đáp lại. Âm thanh này cũng có chức năng tạo ra hình thể, và có lẽ, là phương tiện cho nguyên mẫu được chuyển dịch xuống cõi dĩ thái để trở thành khuôn dĩ thái.

Hodson cũng cung cấp một mô tả chi tiết về quá trình xây dựng hình thể con người trong thai kỳ. Quá trình bắt đầu khi tinh trùng của nam giới thụ tinh với trứng của nữ giới để tạo ra hợp tử tế bào đôi. Ngay tại khoảnh khắc thụ thai, "nguyên tử trường tồn vật lý (physical permanent atom) được một thiên thần gắn vào tế bào kép mới hình thành này". Nguyên tử trường tồn "ban cho [hợp tử] động lực sinh học có trật tự" và khiến nó phát triển theo những chỉ thị phát ra từ Chân Thần (Monad) và thể nguyên nhân (causal body), đồng thời được điều chỉnh bởi nghiệp quả và những ảnh hưởng khác. Một "trường hay quả cầu" được thiết lập để quá trình xây dựng tiếp theo diễn ra bên trong đó. Vật chất bên trong trường này được từ hóa. Giống như sự phát triển của thực vật, một "khuôn mẫu dĩ thái" xuất hiện, bên trong đó "người ta có thể nhìn thấy, dưới dạng năng lượng tuôn chảy hoặc các đường sức từ (mỗi đường trên bước sóng riêng của nó), một bản phác thảo toàn bộ cơ thể".

Quá trình xây dựng mỗi thể - hồng trần, dĩ thái, cảm dục và hạ trí - theo lời kể của Hodson, được giám sát bởi một thiên thần cùng với sự hỗ trợ của các deva cấp thấp hơn. Các deva kiến tạo thuộc các cấp bậc phù hợp được triệu gọi bởi một quá trình cộng hưởng: Khi đến nơi, họ đi vào vùng ảnh hưởng... Sau đó, họ hành động một cách bản năng, hấp thụ vào bản thân và qua đó chuyên biệt hóa thêm vật chất tự do; tiếp đến, họ hỗ trợ trong việc lắng đọng vật chất này (dưới sự chi phối của rung động) vào vị trí thích hợp trong cấu trúc đang phát triển của cơ thể.

Hodson viết rằng các deva kiến tạo này có thể được nhìn thấy bên trong tử cung ở cấp độ trung giới, và có vẻ như họ làm việc từ cõi này. Đôi khi họ trông như những tia sáng chớp nháy màu trắng sữa pha vân màu (opalescent), và đôi khi lại giống như những điểm màu phát sáng di chuyển nhanh chóng, tạo ấn tượng về một hoạt động vô cùng nhộn nhịp... Các deva kiến tạo cũng hấp thụ vật chất từ bên ngoài, đồng hóa nó và truyền vào thai nhi. Họ "bắt lấy" và hấp thụ các vật chất đang đi tới (vốn được hút về phía thai nhi bởi và cùng với các luồng sức mạnh). Sau đó họ lắng đọng vật liệu mới đó.

Chúng ta có thể hình dung các deva kiến tạo như những sinh vật nhỏ bé giống côn trùng, mang theo vật chất tinh linh (elemental matter) và gắn nó vào phôi thai đang phát triển. Điều quan trọng cần nhớ là vật chất tinh linh này thực sự sống; theo đúng nghĩa đen, nó chính là chất thể mà các tinh linh (elementals) hóa thân vào.

Các deva “quan tâm đến việc xây dựng và điều chỉnh cực kỳ tinh vi cỗ máy của tâm thức. Về mặt vật lý, cỗ máy này bao gồm chính cơ thể, hệ thống não tủy cùng với bảy trung tâm thần kinh và tuyến nội tiết”. Việc xây dựng các cơ quan, tuyến nội tiết và hệ thần kinh được cung cấp năng lượng bởi luồng sinh lực tuôn chảy xuống từ thể nguyên nhân (causal body). Ví dụ: “Dòng sinh mệnh của Chân ngã (egoic life) có thể được nhìn thấy đang tiến vào thể cảm dục (astral body) từ trên đỉnh và truyền xuống tận trung tâm của đầu”. Công việc này có mối tương quan với việc xây dựng các luân xa (chakras) ở các cõi dĩ thái và các cõi cao hơn. Hodson nhận xét: “Các luân xa của con người là hình chiếu của bảy vòng xoáy tương ứng trong các Nguyên mẫu Hành tinh và Thái Dương hệ (planetary and Solar Archetypes), và, với sự hỗ trợ của deva, chúng được tạo ra bởi sự vận động của sức mạnh Ngôi Lời (Word-force) từ các nguyên mẫu đó đi qua thể nguyên nhân của con người”. Sức mạnh Ngôi Lời này dường như được biểu hiện bằng những âm điệu âm nhạc riêng biệt:

Có một nốt nhạc riêng biệt có thể nhận thấy rõ trong khu vực lân cận tử cung ở các cấp độ dĩ thái và trung giới. Nó giống như một tiếng ngân nga nhẹ nhàng, không khác biệt mấy so với âm thanh nghe được gần một tổ ong, và chủ yếu được phát ra từ nguyên tử trường tồn; nhưng, vì toàn bộ bản sao dĩ thái (etheric double) của phôi thai và các deva đang làm việc trên nó cũng rung động cùng một tần số, nên tử cung tràn ngập âm thanh dĩ thái này.

Hodson nói thêm rằng “rung động này tạo ra cả ảnh hưởng kiến tạo lẫn bảo vệ,” duy trì “một trạng thái mà chỉ những rung động hài hòa và các vật chất đã được ‘hòa điệu’ mới có thể xâm nhập vào”.

Không phải mọi thứ đều nhất thiết phải hài hòa. Theo kết quả của nghiệp quả (karma), xương và cơ có thể phát triển bất thường, hoặc các cơ quan và tuyến nội tiết có thể bị suy yếu. Hodson giải thích: “Khi nghiệp quả thuận lợi cho sự hoạt động hoàn hảo, hợp âm của mỗi luân xa sẽ hài hòa tuyệt đối. Khi có sự nghịch âm - được tạo ra bởi những vi phạm về tinh thần, cảm xúc hoặc thể chất - thì kết quả sẽ là sự khiếm khuyết trong chức năng”. Hình thể con người có thể bị khiếm khuyết ngay từ ban đầu. Chúng có thể bị hư hại do suy dinh dưỡng, bệnh tật, tai nạn hoặc bạo lực trong quá trình sống. Chúng cũng bị hao mòn khi tuổi tác tăng lên.

Sớm hay muộn thì cái chết vật lý cũng sẽ xảy ra. Thời điểm tử vong được quyết định hoặc cho phép, tùy theo hoàn cảnh, bởi thái dương thiên thần (solar angel). Khi đối mặt với những khiếm khuyết nghiêm trọng trong cơ thể, thái dương thiên thần có thể quyết định chấm dứt kiếp nhân sinh đó. Cái chết đôi khi được coi là “sự chữa lành vĩ đại”. Khi cái chết đến gần, sinh lực sẽ được rút về thể nguyên nhân, và các thể thấp hơn sẽ teo dần đi. Sự đau đớn trong quá trình suy teo này, cũng như trong tình trạng diễn ra trước đó, có thể mang ý nghĩa về mặt nghiệp quả. Sự đau khổ của những người thân yêu và người chăm sóc cũng có thể mang ý nghĩa nghiệp quả. Bất chấp yếu tố nghiệp quả, những nỗ lực của bạn bè và những người quan tâm nhằm tạo điều kiện cho một sự chuyển giao bình an, cũng như làm giảm bớt đau khổ cho những người liên quan, đều rất đáng giá và đáng được khen ngợi.

Trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, thái dương thiên thần có thể quyết định cho thực thể đó cơ hội để làm thêm nhiều việc hoặc có thêm những trải nghiệm trong kiếp sống hiện tại. Việc phục hồi sức khỏe, và sự khao khát điều đó từ góc độ linh hồn, một lần nữa lại bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nghiệp quả - chủ yếu là nghiệp quả của cá nhân nhưng cũng không hoàn toàn loại trừ nghiệp quả của những người khác.

Nếu cái chết dường như không kề cận, bệnh nhân và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe hỗ trợ có thể làm việc cùng nhau để phục hồi chức năng cho các thể vật lý, cảm xúc và trí tuệ. Những thay đổi về lối sống có thể phù hợp để cải thiện sức khỏe tổng thể, và việc điều trị có thể bao gồm các liệu pháp thông thường hoặc liệu pháp bổ sung. Tuy nhiên, các liệu pháp chỉ có thể cung cấp môi trường để sự chữa lành có thể diễn ra; sự chữa lành thực sự xảy ra ở cấp độ "tế bào" trong các thể xác, thể dĩ thái, thể cảm dục và hạ trí. Ví dụ, một chiếc xương gãy có thể được nắn lại, hoặc chứng trầm cảm được điều trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý, nhưng “sự chữa lành” (healing) lại nằm ngoài phạm vi can thiệp của các liệu pháp điều trị.

Bệnh nhân, khi thực thi ý chí tự do từ cấp độ phàm ngã, có thể chấp nhận hoặc từ chối khả năng được chữa lành. Giả sử người đó chấp nhận, quá trình chữa lành sẽ diễn ra, một lần nữa, dưới sự giám sát của thái dương thiên thần. Edgar Cayce, người mà công trình chữa lành và nghiên cứu của ông đang được Hiệp hội Nghiên cứu và Khai sáng (Association for Research and Enlightenment) tiếp nối, đã nhận xét: Thiên thần hộ mệnh (Thái dương thiên thần) - người bạn đồng hành của mỗi linh hồn khi bước vào trải nghiệm vật chất - luôn là một ảnh hưởng duy trì sự hòa hợp giữa các năng lượng hoặc sức mạnh sáng tạo của linh hồn với sức khỏe, sự sống, ánh sáng và sự bất tử. Vì vậy, chắc chắn rằng đó chính là một phần của ảnh hưởng ấy đối với các mãnh lực chữa lành.

Thái dương thiên thần, hoạt động thông qua thể nguyên nhân, có lẽ sẽ triệu tập các deva ở nhiều cấp bậc khác nhau để thực hiện công việc cần thiết. Trách nhiệm của các deva trong việc chữa lành dường như tương tự, nhưng ở quy mô nhỏ hơn, so với trách nhiệm trong việc tạo ra phôi thai. Nếu việc kiến tạo các thể có thể được so sánh với một dự án xây dựng, thì sự chữa lành có thể được ví như một dự án sửa chữa. Giống như thợ mộc có thể thay thế các trụ tường hoặc dầm sàn bị mục nát bằng gỗ mới, các deva thay thế những vật chất bị bệnh, tổn thương hoặc hao mòn bằng vật chất tinh linh (elemental substance) mới.

Việc chữa lành dường như là trách nhiệm của một cấp bậc hoặc hệ thống phân cấp deva đứng đầu bởi Tổng Lãnh Thiên Thần Raphael. Từ Raphael theo nghĩa đen có nghĩa là "Sự chữa lành của Thượng Đế", và từ “rophe” trong tiếng Do Thái hiện đại, bắt nguồn từ cùng một gốc, có nghĩa là một thầy thuốc.

Mối liên hệ của Raphael với sự chữa lành đã được ghi lại trong cuốn sách Thứ kinh (deuterocanonical) Tobit: “Thượng Đế đã sai ta đến để chữa lành cho ông và Sara, con dâu của ông. Ta là Raphael, một trong bảy vị thiên thần thánh thiện, những người dâng lời cầu nguyện của các thánh, và ra vào trước vinh quang của Đấng Chí Thánh”. Các giáo lý Kabbalah xếp Raphael vào Sephirah Tiphareth ("Sự hài hòa" hoặc "Vẻ đẹp"). Tổng Lãnh Thiên Thần Raphael được tôn kính trong Cơ Đốc giáo như vị thánh bảo trợ cho những người hành nghề chữa bệnh. Kabbalah Cơ Đốc giáo liên kết Tiphareth với Đức Christ, người được cho là đã thực hiện ít nhất ba mươi tám phép chữa lành lớn và sứ vụ chữa lành của ngài chiếm một phần ba nội dung các sách Phúc Âm đồng quan. Con người, ở nhiều cấp độ điểm đạo khác nhau, cũng có thể tham gia vào công việc chữa lành từ các cõi nội giới - hỗ trợ cho các phương pháp điều trị y tế thông thường hoặc các liệu pháp bổ sung. Một ví dụ về công việc như vậy sẽ được đề cập ở phần sau.

Công việc chữa lành vượt ra khỏi phạm vi chữa lành cho từng cá nhân. Có những cơ hội tồn tại để chữa lành cho các nhóm, khu vực, hoặc cho toàn bộ hành tinh. Các thảm họa do thiên nhiên hoặc con người gây ra mang lại những cơ hội rõ ràng cho việc phụng sự chữa lành và, với rất nhiều người hiện nay đã có kinh nghiệm trực tiếp về những thảm họa này, đông đảo quần chúng đang dần nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ về tâm sinh lý – tâm linh. Nghiệp quả của nhóm, quốc gia, chủng tộc và thế giới đều có liên quan - tất cả những điều này cũng tương tác ở một mức độ nào đó với nghiệp quả của các cá nhân bị ảnh hưởng. Cả cá nhân và tập thể đều có cơ hội để chữa lành và được chữa lành.

Việc thỉnh nguyện sự chữa lành cho khu vực hoặc toàn cầu có thể trở thành một thực hành thường xuyên - hàng ngày, hàng tuần hoặc hàng tháng - mỗi lần có lẽ sẽ tập trung vào một vùng khác nhau trên thế giới. Hình thức thực hành hàng ngày đơn giản và phổ biến nhất là thiền Tam giác (Triangles meditation). Lễ hội Wesak (Lễ Phật Đản), diễn ra trên các cõi hồng trần và dĩ thái, có thể được coi là một sự kiện chữa lành hành tinh hàng năm. Các phương pháp thực hành khác có thể không khác biệt đáng kể so với các phương pháp được dùng trong việc chữa lành cá nhân. Không nên tìm kiếm các kết quả được định sẵn, thay vào đó có thể tạo ra những hình tư tưởng hình về hòa bình, tình yêu và ánh sáng để che chở cho khu vực hoặc quốc gia đó, đồng thời tiếp thêm sức mạnh cho những người đang làm việc bên trong hoặc cống hiến cho khu vực đó. Những người tham gia vào tất cả các hình thức chữa lành nhóm cần phải có một số hiểu biết về cách xây dựng mối liên kết viễn cảm (telepathic rapport) với các thành viên khác trong nhóm và cách tạo ra một âm thanh chung của nhóm. Khi trực giác phát triển, thì cảm nhận về trái tim và linh hồn của nhóm cũng sẽ phát triển theo.

HỢP TÁC VỚI CÁC DEVA CHỮA LÀNH 

Các deva được tin là có tham gia vào mọi hoạt động chữa lành. Geoffrey Hodson đã mô tả sự can dự của họ trong "các ca phẫu thuật, sự phục hồi và quá trình chữa lành vết thương". Ông cũng nhận xét về sự hiện diện của các deva tại các nghi lễ chữa bệnh mang tính tôn giáo như bí tích xức dầu thánh: "Tổng Lãnh Thiên Thần Raphael chắc chắn bị thu hút và ngài có thể đích thân tham dự hoặc biểu lộ sức mạnh cùng sự hiện diện của mình thông qua các thiên thần thuộc hệ thống phân cấp của ngài vốn đã có mặt tại đó. Điều này tự nhiên làm tăng thêm lượng sức mạnh sẵn có".

Những quan sát như vậy đặt ra một số câu hỏi quan trọng. Tại sao chúng ta nên triệu gọi các deva một cách có ý thức trong khi đằng nào họ cũng đã tham gia vào việc chữa lành?. Có tiềm năng nào để tăng cường cường độ và sự tập trung tham gia từ deva, vượt ra ngoài những gì có thể diễn ra tự nhiên không?. Liệu tiềm năng đó có thể được khai thác cho các mục đích trị liệu không?. Những cân nhắc về mặt đạo đức nào sẽ gắn liền với việc đảm bảo sự tham gia nhiều hơn của các deva?

Một lý do quan trọng cho việc triệu gọi các deva để chữa lành là vì họ cam kết tôn trọng ý chí tự do của chúng ta. Nếu chúng ta không mời họ tham gia một cách có ý thức, họ có thể sẽ đứng ngoài hoặc chỉ làm mức tối thiểu theo yêu cầu của một sứ mệnh chung nào đó. Nếu có những lý do chính đáng để kêu gọi các deva tham gia vào quá trình chữa lành, thì thách thức của chúng ta là tìm ra những cách thức tốt nhất để liên lạc với họ và yêu cầu sự giúp đỡ. Dù áp dụng phương pháp nào, chúng cũng phải nhất quán với các nguyên tắc đạo đức và xét đến sự an toàn của chính chúng ta.

Việc tiếp xúc với các deva thuộc các cấp bậc thấp tương đối dễ dàng đối với những người có mức độ rung động thấp. Các pháp sư, qua nhiều thời đại, đã tìm cách gọi lên các deva bậc thấp và ép buộc những thực thể đó làm theo lệnh của họ. Những hoạt động như vậy thường được thúc đẩy bởi lòng ham muốn quyền lực hoặc khao khát gây ấn tượng với người khác. Chúng không đóng góp gì cho sự phát triển tâm linh và có thể cực kỳ nguy hiểm. Các hồ sơ ghi nhận trước đây tiết lộ vô số ví dụ trong đó các nghi lễ huyền thuật đã vượt khỏi tầm kiểm soát; và những tình huống tồi tệ hơn có thể chưa bao giờ được tường thuật lại.

Alice Bailey đã thúc giục sự thận trọng khi ngày càng có nhiều người tiếp xúc với các deva: "Sự cám dỗ muốn ép buộc vấn đề, muốn thử nghiệm các phương pháp nhất định hứa hẹn sự tăng cường các năng lực ngoại cảm là quá mạnh mẽ. Họ vô tình cưỡng ép các sự việc và hậu quả là những thảm họa tàn khốc... Các deva cõi trí (mental levels) thao túng những ngọn lửa tiềm ẩn của hệ thống và do đó cũng tình cờ tác động đến những ngọn lửa tiềm ẩn của con người nội tâm. Hoàn toàn có khả năng bi thảm là chúng ta sẽ trở thành món đồ chơi trong nỗ lực của họ và bỏ mạng dưới tay họ. Đây là một sự thật mà tôi đang nói đến; tôi không hề nói ra những ảo tưởng thú vị của một bộ óc mộng mơ. Hãy coi chừng việc đùa với lửa".

Việc tiếp xúc với các deva bậc cao an toàn hơn nhưng lại khó khăn hơn. Họ không thể bị kiểm soát bởi ý chí con người, và các cuộc tiếp xúc là hoàn toàn tự nguyện từ phía họ. Trước khi triệu gọi, luôn phải có một lời cầu thỉnh đến thái dương thiên thần của chính mình để xin sự bảo vệ và hướng dẫn. Bailey nhấn mạnh rằng “chỉ những ai có cuộc sống thuần khiết và động cơ vô kỷ” mới có thể tiếp cận các deva một cách an toàn và thành công: "Vì vậy, tất cả các Bậc Thầy khôn ngoan ở khắp mọi nơi đều đặt trọng tâm vào Con Đường Thanh Luyện, vốn phải diễn ra trước Con Đường Giác Ngộ. Họ nhấn mạnh vào việc xây dựng năng lực tinh thần trước khi năng lực ngoại cảm có thể được cho phép một cách an toàn; họ đòi hỏi việc phụng sự nhân loại mỗi ngày trong suốt toàn bộ cuộc đời trước khi một người có thể được phép thao túng các lực lượng tự nhiên, chế ngự các tinh linh, hợp tác với các deva, và học hỏi các hình thức, nghi lễ, thần chú cũng như các từ khóa để mang những lực lượng đó vào vòng biểu lộ".

Dù vậy, một đoạn văn trong cuốn “Điểm Đạo trong Nhân Loại và Thái Dương Hệ” của Bailey vẫn đưa ra lời hứa hẹn về việc đạt được sự hợp tác của deva trong các hoạt động xứng đáng: "Đạo quân Âm thanh (Army of the Voice), các deva trong những hàng ngũ dày đặc của họ, làm việc không ngừng nghỉ. Người đệ tử hãy tự mình xem xét các phương pháp của họ; hãy để y học hỏi các quy luật mà Đạo quân đó dùng để hoạt động bên dưới những bức màn của Ảo ảnh (Maya). Quy tắc này đề cập đến công việc nghiên cứu huyền bí học, điều mà tất cả những ai tìm kiếm điểm đạo đều phải theo đuổi vào lúc này hay lúc khác. Mặc dù việc những người chưa được điểm đạo can thiệp vào quá trình tiến hóa song song của các deva là không an toàn, nhưng việc nghiên cứu quy trình mà các nhà kiến tạo này theo đuổi, các phương pháp mà họ thực hiện để tái tạo từ khuôn mẫu nguyên thủy thông qua lớp dĩ thái thành cái mà chúng ta gọi là sự biểu lộ vật lý, lại là cần thiết và an toàn; âm thanh của họ phần nào phải được nhận thức về mặt lý thuyết, và những âm thanh có khả năng cuốn họ vào các hoạt động cũng cần được xem xét. Do đó, điều này đòi hỏi tất cả những ứng viên phải có sự nghiên cứu có tổ chức về:

1. Mục đích của âm thanh.

2. Ý nghĩa nội môn của các từ ngữ, ngữ pháp và cú pháp.

3. Các định luật về sự rung động và điện, cùng nhiều nghiên cứu phụ trợ khác liên quan đến sự biểu lộ của tính thiêng liêng và tâm thức thông qua môi trường vật chất deva cùng với hoạt động của các deva kiểm soát".

Ở một đoạn khác, Bailey tuyên bố: “Nhà chánh thuật (white magician) làm việc hoàn toàn thông qua các Đấng Deva Kiến Tạo cấp cao, và thông qua âm thanh cùng các con số, nhà chánh thuật hòa quyện công việc của họ, từ đó gây ảnh hưởng lên các vị Kiến Tạo bậc thấp - những sinh mệnh cấu thành nên vật chất cho cơ thể của chính họ, và do đó, cho tất cả những gì đang tồn tại.”

Các yêu cầu giúp đỡ từ các deva bậc cao nên mang hình thức cầu nguyện, có thể nhưng không nhất thiết phải là các hình thức được sử dụng trong các tôn giáo truyền thống. Về mặt cá nhân hoặc tập thể, chúng ta có thể phát triển các "nghi thức phụng sự" (liturgies) phục vụ cho mục đích chữa lành. Các lời cầu nguyện hiện có có thể được sử dụng hoặc điều chỉnh cho mục đích này, bao gồm những ngôn từ như: "Xin hãy biến chúng con thành những tác nhân tự nguyện cho lòng trắc ẩn của Người. Xin hãy tiếp thêm sức mạnh cho chúng con khi chúng con chia sẻ việc làm cho mọi người được vẹn toàn". Mỗi từ được vang lên trong quá trình chữa lành đều mang nốt nhạc và âm điệu riêng, được tô điểm bởi động cơ hoặc mục đích bên trong cũng như phẩm chất của năng lượng hay hoạt động của người phát ra nó. Việc chữa lành phụ thuộc vào sự duy trì hành động đúng, lời nói đúng và suy nghĩ đúng từ phía người tìm kiếm sự chữa lành. Sự kiên nhẫn làm nên một bệnh nhân hoàn hảo.

ÂM THANH VÀ ÂM NHẠC

Âm thanh có tầm quan trọng vô cùng to lớn trong công việc ở cả cấp độ đại vũ trụ (macrocosmic) và tiểu vũ trụ (microcosmic). 

Bailey giải thích, các Chúa tể Raja (Raja-Lords) của một cõi giới "phát ra hai âm tiết của Ngôi Lời tiểu vũ trụ ba ngôi và mỗi vị (trên cõi giới riêng của họ) đóng vai trò là cơ quan liên kết có chức năng thu thập chất thể thành hình dạng, và thu hút vật chất cho các mục đích tạo ra sự biểu lộ khách quan". Bailey cũng nhận xét: “Mọi Ngôi Lời, dù được phân hóa hay tổng hợp, đều tác động đến các giới deva, và do đó ảnh hưởng đến các khía cạnh kiến tạo hình thể của sự biểu lộ. Không có một âm thanh nào được phát ra mà không tạo ra phản ứng tương ứng trong vật chất deva, và thúc đẩy vô số sinh mệnh nhỏ bé khoác lấy những hình thể cụ thể”. Bà dự đoán: “Hệ thống thuật ngữ của các trường y khoa sẽ ngày càng dựa nhiều hơn vào sự rung động và được diễn đạt bằng các khái niệm âm thanh và màu sắc”.

Rung động được thể hiện trong lời nói; trong từ ngữ, ngữ pháp và cú pháp. Ngôn ngữ rõ ràng đóng một vai trò quan trọng trong việc triệu gọi các deva. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận khi diễn giải điều này theo nghĩa “những quyền linh từ” (words of power), ít nhất là trong chừng mực nó ngụ ý đến sự chi phối bởi ý chí con người. Chúng ta không thể ra lệnh cho các deva bậc cao - những vị mà chúng ta đang tìm kiếm sự hợp tác - giúp đỡ chúng ta; họ chỉ có thể được thỉnh cầu làm điều đó.

Rung động cũng được thể hiện trong âm nhạc: ở âm sắc, nhịp điệu và giai điệu. Việc thiết lập đúng âm điệu đóng vai trò quan trọng trong nhiều nền văn hóa cổ đại nhằm thiết lập sự hài hòa hoặc trạng thái hợp nhất (at-one-ment) bên trong tiểu vũ trụ hoặc đại vũ trụ. Người Trung Quốc cổ đại cũng sử dụng âm nhạc thông qua sự hiểu biết của họ về các quy luật có thể mang lại sự hài hòa giữa trời và đất. Mỗi năm, họ điều chỉnh nốt nhạc của vương quốc theo “âm Hoàng chung” (yellow bell tone). Một điều thú vị cần lưu ý là màu vàng/vàng kim rất thường xuất hiện trong quá trình chữa lành: đây là màu của Mặt Trời, của cung 4 về sự hài hòa thông qua xung đột, của cõi Bồ Đề (buddhic plane) và của tình yêu vũ trụ.

Sự công nhận về sức mạnh của âm thanh đã gia tăng trong những năm gần đây. Những nhận xét của Geoffrey Hodson về phản ứng của deva đối với các tác phẩm âm nhạc nổi tiếng mở ra cơ hội để người nghe, người biểu diễn và các nhà soạn nhạc khám phá sâu hơn. Âm nhạc phương Tây truyền thống, âm nhạc của các nền văn hóa khác và các sáng tác mới đều có thể đóng một vai trò nhất định. Âm nhạc hợp xướng, với sự tham gia của ngôn ngữ, đã đóng một vai trò nổi bật trong các nghi thức phụng sự thiêng liêng và dường như sở hữu một sức mạnh đặc biệt; trên thực tế Hodson đã thu hút sự chú ý đến điều này. Sự quan tâm lớn đang được đổ dồn vào việc ngân vang âm AUM hoặc ca hát sử dụng các hình thức như lời cầu nguyện, bài thánh ca hoặc thần chú bằng các ngôn ngữ thiêng liêng cổ đại. Phẩm chất âm sắc và giai điệu của tiếng Phạn, tiếng Latinh và tiếng Do Thái khác biệt với các ngôn ngữ hiện đại và được coi là thuần khiết hơn cũng như mang rung động cao hơn.

Những nỗ lực nhằm thu hút và nhận thức được sự hiện diện của deva nên được thúc đẩy bởi một động cơ lớn lao hơn là chỉ vì sự tò mò. Sự hợp tác từ các deva bậc cao có khả năng thành công lớn nhất nếu người thực hành hướng tới một công việc phụng sự xứng đáng. Chữa lành nên là một ứng dụng ưu tiên hàng đầu.

CÁC PHƯƠNG THỨC CHỮA LÀNH THỰC HÀNH 

Việc nhận thức về sự tham gia của deva trong quá trình chữa lành chỉ có thể mang lại lợi ích. Mặc dù các deva có lẽ có thể tự thực hiện công việc chữa lành của họ độc lập với hành động hay suy nghĩ của con người, nhưng có đầy đủ lý do để cho rằng sự hợp tác với họ sẽ củng cố và đẩy nhanh quá trình này. Chúng ta cần tìm cách để kêu gọi sự giúp đỡ của họ. Chúng ta cần khám phá xem những thực hành trị liệu nào có thể hiệu quả nhất. Và chúng ta cần xác định những biện pháp bảo vệ nào là cần thiết để bảo vệ người thực hành, bệnh nhân và chính các deva.

Machaelle Small Wright đã phát triển "Chương trình Hỗ trợ Y tế (MAP)", chương trình này tuyên bố có sự tham gia của các deva cũng như các thành viên của "Đại Bạch Giai Huynh Đệ" (White Brotherhood, Thánh Đoàn). Nhóm thứ hai được cho là bao gồm các chuyên gia y tế hiện đang làm việc trên các cõi nội giới. Nhóm thứ nhất được xếp vào nhóm "Tự nhiên". Wright mô tả các deva và tinh linh tự nhiên - bà dành từ "devas" cho các bậc cao hơn - là tạo thành "hai cấp độ bên trong tâm thức tự nhiên giao tiếp với linh hồn con người khi ở trong hình thể vật lý". Nhìn chung, mô tả của bà về quá trình tiến hóa của deva tương thích với các giáo lý xuyên Himalaya (giáo lý nội môn).

Công việc của Wright chủ yếu nhắm vào việc tự chữa lành. Chương trình của bà yêu cầu bệnh nhân phải đi vào trạng thái thiền định để có thể thiết lập giao tiếp với các thực thể trong Tự nhiên và Đại Bạch Giai Huynh Đệ. Bệnh nhân giải thích những gì làm họ đau ốm và yêu cầu sự chữa lành. Sự thuyên giảm các triệu chứng được mong đợi, và thông tin có thể được cung cấp cho bệnh nhân về các bước để cải thiện sức khỏe. Người ta tuyên bố đã đạt được những kết quả tốt, và Wright đã tham gia vào công việc này trong hơn hai mươi năm. Bà thảo luận về việc áp dụng các phương pháp của mình cho người khác, đặc biệt là trẻ em, và gọi đây là "chữa lành thay thế" (surrogate healing). Chữa lành thay thế cho người lớn được khuyến nghị như một quy trình khẩn cấp, nhưng bệnh nhân được khuyến khích bắt đầu tự chữa lành càng sớm càng tốt. Việc chữa lành thay thế được thực hiện với sự hiện diện của bệnh nhân, bằng cách đặt tay phi tôn giáo. Phương pháp của Wright không có quy định nào cho việc chữa lành từ xa.

Nhiều người đã bày tỏ mong muốn rằng cuốn “Esoteric Healing” (Trị Liệu Huyền Môn) của Alice Bailey nên cung cấp nhiều lời khuyên thiết thực hơn. Một nhóm đã cố gắng áp dụng các giáo lý này vào các liệu pháp thực hành là Mạng lưới Chữa lành Nội môn Quốc tế (INEH), được thành lập vào năm 1982 nhưng dựa trên công trình của nhà chữa lành siêu hình Brenda Johnston bắt đầu từ năm 1965. Nền tảng của công việc này là sự chỉnh hợp (alignment) giữa linh hồn của người thực hành với linh hồn của bệnh nhân. Người thực hành phải vừa có tính từ tính vừa biết cách phát xạ. "Chúng tôi sử dụng chữa lành từ tính để thu hút linh hồn của chính mình, linh hồn của bệnh nhân và hoạt động tiếp theo của họ. Kết quả là chúng tôi phát xạ năng lượng linh hồn để kích hoạt linh hồn của bệnh nhân nhằm khai sáng tâm trí và phân cực ý chí (trụ vững ý chí) của người đó, kiểm soát và cân bằng thể cảm xúc của bệnh nhân, đồng thời mang lại sự tổ chức tốt hơn cho thể dĩ thái và do đó là cơ thể vật lý". Những người thực hành làm việc chủ yếu với các luân xa, thỉnh thoảng sử dụng đôi tay, không chạm vào bệnh nhân mà làm việc trong vầng hào quang dĩ thái. Các tam giác có thể được hình dung để kết nối các luân xa chính và phụ. Toàn bộ khoa học về các tam giác nằm ở trọng tâm của công việc này. Chữa lành nội môn là một nghệ thuật "kết nối đúng tam giác vào đúng thời điểm".

Hai tác giả bài viết này đều đã nhận được các phương pháp điều trị chữa lành từ những người thực hành INEH và có thể làm chứng cho sức mạnh của các năng lượng được khơi gợi. Các quy trình này không trực tiếp kêu gọi sự giúp đỡ của deva, nhưng họ chú ý đến màu sắc. Như đã lưu ý trước đó, các deva tím đã được trích dẫn vì mối liên hệ của họ với thể dĩ thái và prana. Những người thực hành INEH khẳng định rằng màu tím là màu ngoại môn (exoteric) và màu trắng sẽ được sử dụng cho mục đích nội môn (esoteric).

Tiềm năng chữa lành của âm nhạc đã được củng cố vững chắc trong các liệu pháp bổ sung và đang được công nhận trong thực hành y khoa và tâm thần học thông thường. Bailey đã nói về công việc của người chữa lành theo Cung 4, công việc của họ sẽ mở rộng đáng kể vào cuối thế kỷ 21, khi Cung 4 một lần nữa lâm phàm đi vào chu kỳ biểu lộ: "Người đó cũng biết sức mạnh của âm thanh và âm thanh cần phải được lắng nghe... Trong những giai đoạn đầu khi kỹ thuật này được chứng minh, âm nhạc sẽ được người chữa lành sử dụng chủ yếu để mang lại sự chữa khỏi hoặc tạo điều kiện cho quá trình tử vong hoặc ra đi. Tuy nhiên, đó sẽ là âm nhạc với một hợp âm lặp đi lặp lại liên tục, thể hiện nốt nhạc của cung 4 và của giới nhân loại".

Khổ thơ thứ hai của sách Dyzan tuyên bố: "Các đấng Kiến tạo đã đáp lại âm thanh thiêng liêng. Trong sự hợp tác bằng âm nhạc, họ đã tham gia vào công việc". Âm nhạc thiêng liêng rõ ràng đóng một vai trò trong quá trình chữa lành.

Nhiều người, bao gồm một trong các tác giả bài viết hiện tại, đã tìm thấy sức mạnh chữa lành trong Bản thánh ca bUt queant laxis, hoặc "Bài thánh ca ngợi ca Thánh John the Baptist," được cho là sáng tác bởi Paulus Diaconus ở thế kỷ thứ 8. 

CÔNG VIỆC CHỮA LÀNH CỦA CHÍNH CHÚNG TÔI  

Kinh nghiệm của các tác giả bài viết này bao gồm việc tự chữa lành, làm việc trực tiếp với bệnh nhân và chữa lành từ xa cho bệnh nhân. Chúng tôi đã làm việc cả độc lập lẫn theo nhóm. Trong các liệu pháp chữa lành của mình, chúng tôi bắt đầu bằng việc cầu xin sự bảo vệ và hướng dẫn của thái dương thiên thần (solar angel). Làm việc thông qua thái dương thiên thần - đấng mà chúng ta được biết là đã hoàn thiện manas (trí tuệ) trong một chu kỳ vũ trụ (manvantara) trước đó - không chỉ bảo vệ chúng ta mà còn nâng cao triển vọng nhận được sự hợp tác đáng kể từ các deva. Khả năng làm việc thông qua thái dương thiên thần của chúng ta sẽ chỉ được cải thiện khi chúng ta tiến bộ trong việc xây dựng cầu antahkarana.

Sau đó, chúng tôi cầu xin sự hỗ trợ từ Tổng Lãnh Thiên Thần Raphael và các deva chữa lành. Chúng tôi muốn nhấn mạnh mạnh mẽ về sự cần thiết của việc gửi các yêu cầu chữa lành đến các deva bậc cao. Việc đưa ra chỉ thị hay hướng dẫn cho các deva kiến tạo không phải là nhiệm vụ của chúng ta. Chúng ta - những người chưa phải là các điểm đạo đồ bậc cao - đơn giản là không có đủ kiến thức và kỹ năng để làm điều đó một cách an toàn và hiệu quả. Trong mọi trường hợp, chúng ta không bao giờ được cố gắng ép buộc các deva thuộc các cấp bậc thấp tham gia. Việc giám sát các cấp bậc deva thấp hơn là, và phải luôn là, trách nhiệm của các "chị em" bậc cao của họ. Bailey giải thích rằng các deva bậc thấp là những nhà kiến tạo, nhưng họ "không quan tâm đến hình thể mà họ xây dựng" hay mục đích mà nó có thể phục vụ. Bà tiếp tục: "Họ phản ứng một cách vô trách nhiệm với các luồng năng lượng, và việc xử lý các nguồn năng lượng không phải là vấn đề của họ".

Khi tìm kiếm sự chữa lành cho một người khác, quá trình này nên diễn ra rõ ràng, đơn giản và trực tiếp. Một người thực hành để cho phàm ngã (personality) của mình can thiệp vào sẽ dễ mắc sai lầm và có thể làm cho tình trạng của bệnh nhân trở nên tồi tệ hơn. Chúng tôi nỗ lực trở thành những bình chứa trống rỗng vô ngã và sẵn sàng được sử dụng như những tác nhân của các trí tuệ và quyền năng cao cả hơn. Một lời khẳng định phù hợp để sử dụng khi chuẩn bị cho công việc chữa lành là: “Với động cơ thuần khiết, được truyền cảm hứng bởi một trái tim yêu thương, Chúng con xin hiến dâng chính mình cho công việc chữa lành này. Lời đề nghị này được chúng con đưa ra với tư cách là một nhóm và hướng tới người mà chúng con tìm kiếm sự chữa lành.”

Tầm quan trọng của một tâm trí thuần khiết, tập trung vào điều tốt đẹp cao nhất cho bệnh nhân, được nhấn mạnh bởi quan sát rằng các deva thuộc các cấp bậc thấp có thể cư trú và thao túng các hình tư tưởng hình của chúng ta. Một deva, trích lời nhà thông thiên học và nhà khoa học Edward Gardner, "vui sướng nhảy vào một hình tư tưởng có sẵn giống như một đứa trẻ hiếu động thích thú với việc mặc đồ hóa trang vậy!". Không còn nghi ngờ gì nữa, sự thuần khiết trong suy nghĩ của chúng ta sẽ quyết định rung động của deva bước vào.

Khi làm việc với một người khác, sự đụng chạm có thể là một phần quan trọng của quá trình chữa lành. Việc đặt tay có một truyền thống lâu đời kéo dài từ thời sứ vụ chữa bệnh của Chúa Jesus. Thật vậy, Bailey khuyến nghị "nghiên cứu cuộc đời của Đức Christ, và xem xét các phương pháp Ngài sử dụng đôi tay của mình". Đối với một người trong chúng tôi, vốn là một bậc thầy Reiki truyền thống, việc chữa lành bằng tay diễn ra rất tự nhiên. Sự nhận thức về sự can dự của deva mang lại một sự củng cố cho quá trình này và là một lời giải thích cho cách thức hoạt động của phương pháp chữa lành Reiki.

Việc sử dụng đôi tay, đôi khi kết hợp với "con mắt", đã được đề cập trong Quy tắc 12 của Các Quy tắc dành cho Ứng viên điểm đạo trong cuốn “Điểm Đạo trong Nhân Loại và Thái Dương Hệ”: "Hãy để người đệ tử học cách sử dụng đôi tay trong việc phụng sự; hãy để y tìm kiếm dấu ấn của sứ giả dưới đôi chân mình, và hãy để y học cách nhìn bằng con mắt phóng ra từ giữa hai con mắt kia". Bailey tuyên bố rằng sự chữa lành đến thông qua luân xa hoặc trung tâm trong lòng bàn tay, nơi có thể được sử dụng để vận dụng vật chất và các luồng dĩ thái. Bà giải thích rằng "lực chảy qua đôi tay đến từ một nguồn kép và thông qua hai trung tâm dĩ thái là lá lách và trái tim".

Tất cả các giác quan đều được sử dụng trong quá trình chữa lành và trở nên "sắc bén" hơn, góp phần vào sự tiến hóa của đời sống tinh thần nội tâm. Khi việc chữa lành được thực hiện bởi các nhóm không ở gần nhau về mặt vật lý, sự hiện diện của toàn bộ nhóm sẽ được hình dung và điều này nên được "cảm nhận" một cách "rõ ràng". Điều này cũng áp dụng cho các bệnh nhân trong phương pháp chữa lành từ xa.

Trong công việc chữa lành của mình, chúng tôi thường xuyên hình dung các hệ thống tam giác. Bailey tuyên bố rằng "Khoa học Tam giác chi phối cấu trúc con người trong mọi khía cạnh cũng như cấu trúc của một thái dương hệ". Trong tự chữa lành, điểm bắt đầu là một tam giác bao gồm cá nhân đó, Tổng Lãnh ThiênTthần Raphael và Đức Christ - "Bậc Thầy của các Thiên thần". Một người trong chúng tôi đã ghi lại lời kể sau đây về một ca phẫu thuật cắt bỏ một khối u ung thư đã được phát hiện ở lần chẩn đoán trước đó: Trước khi rời khỏi nhà sáng hôm đó, tôi đã có thời gian cho việc thiền định và nghi lễ thường lệ, bao gồm việc tụng xướng bản Ut queant laxis và sử dụng các cử chỉ tay để thu hút, sử dụng và phân phối năng lượng từ môi trường. Tôi tiếp tục với các bài tập thở Tai Qong Do và Thái Cực Quyền. Trên bàn mổ, tôi nhớ lại tất cả những điều này và chìm vào giấc ngủ dưới tác dụng của thuốc mê trong khi hình dung bản thân đang đứng bên trong một ngôi sao năm cánh màu trắng với ngôi sao của Đức Christ ở phía trên, được hỗ trợ bởi một tam giác tạo thành bởi Raphael, Đức Christ và Chân Sư Djwhal Khul. Trải nghiệm đó vô cùng mạnh mẽ và nâng đỡ. Tôi cảm thấy mình đang được "ôm ấp".

Kết quả là một tổn thương lành tính đã được cắt bỏ, nhưng cuộc phẫu thuật đã "thất bại" trong việc tìm thấy khối u ung thư được chẩn đoán trước đó.

Việc kêu gọi Chân Sư Djwhal Khul đặc biệt phù hợp vì ngài "làm việc với những người chữa bệnh". Ngài cũng làm việc "với những nhóm deva dĩ thái nhất định, những vị là các deva chữa lành, và do đó họ hợp tác với Ngài trong công việc chữa lành một số căn bệnh về thể chất của nhân loại". Khi chữa lành cho một người khác, tam giác nên bao gồm người thực hành, bệnh nhân và Raphael hoặc Đức Christ. Sau đó, một yêu cầu có ý thức về sự hỗ trợ của deva sẽ được đưa ra. Các tam giác bổ sung có thể được sử dụng, trong đó vị trí thứ ba có thể được lấp đầy bởi Chân Sư Djwhal Khul hoặc một chân sư khác. Sự kết hợp khả thi của các tam giác là vô cùng rộng lớn, bao trùm các yếu tố từ tam nguyên tinh thần (spiritual triad) hoặc các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã cho đến các yếu tố vật lý rất cụ thể, tùy thuộc vào nhu cầu của bệnh nhân cũng như chiều sâu kiến thức và sự hiểu biết của người thực hành.

Vào cuối một phiên trị liệu, điều thích hợp là khẳng định rằng sự chữa lành đã diễn ra. Cần phải cảm ơn các deva và các bậc chân sư vì sự tham gia của họ, một cách cụ thể hoặc chung chung tùy thuộc vào mức độ họ được triệu gọi có ý thức như thế nào - và bất kể kết quả có như chúng ta mong đợi hay khao khát hay không.

Ngoài nhiều điều khác, hành động tạ ơn giúp tăng cường sự hài hòa giữa giới nhân loại và quá trình tiến hóa của deva. Nếu không có những khả năng thấu thị hay thấu thính đáng kể, sẽ rất khó để đánh giá sự thành công của bất kỳ phương thức cụ thể nào hoặc sự thành công của một phiên chữa lành cá nhân. Tuy nhiên, chúng tôi tin tưởng rằng, được dẫn dắt bởi trí tuệ và lẽ thường, công việc này sẽ đóng góp tích cực cho quá trình chữa lành.

Khi thực hiện công việc chữa lành, chúng tôi cố gắng ghi nhớ sự hiểu biết về ý nghĩa của việc chữa lành và bối cảnh mà công việc đó phải được thực hiện. Chữa lành có nghĩa là "làm cho toàn vẹn". Nó là một quá trình hợp nhất (at-one-ment). Sự hiểu biết của chúng ta về những nguyên tắc này vẫn còn rất sơ đẳng, và tại thời điểm này, chúng ta chỉ đang làm việc ở cấp độ cơ bản nhất.

Sự chữa lành thực sự - tức là hơn cả sự thuyên giảm triệu chứng thoáng qua - phải giải quyết được những nguyên nhân cơ bản gây ra các triệu chứng đó. Điều này là bất khả thi trừ khi chúng ta sẵn sàng và cởi mở để nhìn nhận những gì cần phải làm và hành động hiệu quả ở bất kỳ cấp độ nào cần thiết. Cần có lòng can đảm để đào sâu vào những vùng đau đớn trong cuộc sống của chúng ta hoặc để giải quyết những gánh nặng về cảm xúc hay những vấn đề khác chưa bao giờ được giải quyết. Các mối quan hệ rối loạn có thể cần phải được chấn chỉnh. Hy vọng rằng chúng ta có thể đạt đến một điểm thấu hiểu và chấp nhận về những gì đã xảy ra, lý do tại sao và diễn ra như thế nào.

Hầu hết bệnh tật đều có nguồn gốc từ cảm xúc và do đó liên quan đến các luân xa thấp. Ngược lại, sự chữa lành được hoàn thành thông qua các luân xa ở tim và đầu. Chúng ta cần sự sáng suốt của tâm trí, để làm việc cùng ánh sáng và thông qua ánh sáng. Thực sự chúng ta cần phải trở thành ánh sáng, trở nên trong trẻo và nhẹ lòng (light-hearted) thay vì nặng trĩu (heavy-hearted). Bước này mang tính nền tảng và là một trong những bước đầu tiên cần phải thực hiện đối với bất kỳ ai tìm kiếm sự chữa lành đích thực.

Khi một bệnh nhân đến với chúng tôi để được chữa lành hoặc yêu cầu chữa lành từ xa cho chính họ, chúng tôi có thể mặc định là đã có sự đồng ý hợp đáng. Trong những tình huống khác, sự đồng ý có thể không rõ ràng hoặc thậm chí bị từ chối. Khi biết ai đó đang đau khổ, chúng ta muốn giúp đỡ. Nhưng nỗ lực chữa lành cho một người không hề yêu cầu sự chữa lành hoặc không muốn khỏi bệnh, là vi phạm quyền và trách nhiệm của người đó trong việc sống theo những nguyên tắc mà họ đã chọn, bất kể chúng ta có nghĩ gì về những nguyên tắc đó đi chăng nữa. Trong những trường hợp không có sự đồng ý rõ ràng, chúng tôi khẳng định rằng việc chữa lành đang được tìm kiếm tùy thuộc vào ý chí tự do của bệnh nhân.

Chúng tôi không cố gắng ấn định các kết quả - càng không hứa hẹn kết quả mà bệnh nhân có thể mong muốn. Xoa dịu nỗi đau của ai đó có thể là một mục tiêu xứng đáng, nhưng nó có thể làm suy yếu mục đích của linh hồn nếu nỗi đau đó mang ý nghĩa nghiệp quả. Việc cố gắng sửa chữa các thể có thể gây ra tác hại. Nỗ lực "làm cho ai đó khỏe lại" khi linh hồn của người đó đang rút khỏi cơ thể vật lý không chỉ vô nghĩa mà còn có thể trì hoãn quá trình chuyển giao đã được hoạch định, làm cản trở mục đích của linh hồn và gia tăng đau khổ. Trong mọi trường hợp, chúng tôi khẳng định rằng sự chữa lành được tìm kiếm là vì điều tốt đẹp cao nhất cho bệnh nhân và tuân theo các khuynh hướng nghiệp quả. Những trí tuệ cao hơn chúng ta có thể quyết định hình thức chữa lành nào, nếu có, là phù hợp.

Kết quả có thể là một sự chuyển giao bình an, trong đó cá nhân được hỗ trợ vượt qua quá trình rút khỏi thế giới hồng trần. Hoặc, cá nhân đó có thể học cách quản lý và sống chung với một căn bệnh hay chấn thương mãn tính. Hay, trong một tình huống mà phàm ngã có thể đánh giá là kết quả tốt nhất, cá nhân đó có thể trở thành một "người toàn vẹn" trở lại và tận hưởng một cuộc sống lâu dài, hiệu quả. Ngay cả như vậy, chúng ta vẫn phải nhớ rằng cái chết vật lý cuối cùng là điều không thể tránh khỏi. Sự phục hồi sức khỏe chỉ đáng giá, từ góc độ linh hồn, nếu cá nhân đó có thể tận dụng những tháng năm có thêm để hoàn thành sứ mệnh của mình. Các ví dụ có thể bao gồm việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ và chăm sóc người già hoặc người khuyết tật. Khi cái chết vật lý cuối cùng xảy ra, những tác động thuận lợi của việc phụng sự sẽ được chuyển vào các nguyên tử trường tồn để tác động đến các kiếp luân hồi trong tương lai. Bản thân quá trình chữa lành có thể đã mang tính chuyển hóa sâu sắc.

TƯƠNG LAI CỦA LIỆU PHÁP CHỮA LÀNH

Alice Bailey dự đoán rằng, trong 500 năm tới, quá trình tiến hóa của deva và giới nhân loại sẽ “trở nên có ý thức về nhau ở một mức độ nào đó, và do đó có thể tự do hợp tác với nhau hơn”. Kết quả là, chúng ta có thể lường trước được những tiến bộ lớn trong các liệu pháp chữa lành.

Trong khi đó, vào khoảng 300 năm nữa, khi Cung 7 (Ray 7) biểu lộ đầy đủ hơn, nhân loại sẽ có cơ thể khỏe mạnh hơn và ít bệnh tật hơn. Nhờ sự hoạt động gia tăng của tiến trình tiến hóa deva, và đặc biệt là của các deva dĩ thái, các nhà kiến tạo bậc thấp (lesser builders) sẽ được kích thích để xây dựng một cách dễ dàng hơn các cơ thể có bản chất phản ứng nhạy bén hơn; thể dĩ thái của cả con người và động vật cũng như khả năng phản ứng của chúng đối với mãnh lực hoặc prana sẽ đầy đủ hơn. Trong suốt thời kỳ của phụ chủng (subrace) thứ sáu, bệnh tật như chúng ta biết ở cả hai giới sẽ giảm đi đáng kể nhờ vào phản ứng prana của các thể dĩ thái. Điều này cũng sẽ mang lại những thay đổi trong cơ thể vật lý, cơ thể của cả con người lẫn động vật sẽ nhỏ hơn, thanh tao hơn, hòa hợp tinh tế hơn với rung động, và do đó phù hợp hơn để biểu đạt mục đích thiết yếu.

Bailey dự đoán rằng việc ngày càng có nhiều người đạt được thị giác dĩ thái (etheric vision) sẽ mang lại những tác động sâu rộng đối với thực hành y khoa: Sự chú ý của các sinh viên y khoa và khoa học sẽ tập trung vào thể dĩ thái, và sự phụ thuộc của cơ thể vật lý vào thể dĩ thái sẽ được công nhận. Điều này sẽ làm thay đổi thái độ của giới y khoa, và việc chữa lành bằng từ tính cùng với sự kích thích rung động sẽ thay thế các phương pháp phẫu thuật và đồng hóa thuốc men hiện tại.

Khi khả năng tiếp nhận của con người tăng lên, các deva có thể tiết lộ những liệu pháp chữa lành hiệu quả hơn, có lẽ ở một quy mô chưa từng được biết đến. Thông tin có thể sẽ chỉ được tiết lộ khi có đủ thành viên của gia đình nhân loại có khả năng hợp tác một cách có ý thức với các lực lượng deva. Đổi lại, điều này đòi hỏi con người phải hiểu rằng có những lực lượng sống trong tự nhiên, đồng thời đạt được một mức độ trí tuệ, sự vị tha, và tình yêu thương nhất định đối với nhau và đối với các giới khác. Các deva bậc cao nhất, giống như các chân sư, chắc chắn sẽ ưu tiên làm việc thông qua các nhóm hơn là các cá nhân.

Công việc chữa lành được thực hiện bởi và cho các nhóm, hoặc cho hành tinh, là công việc bắc cầu sử dụng antahkarana toàn cầu, giúp thiết lập sự liên tục tâm thức giữa đời sống cõi trần và các cõi chủ quan nội giới. Mục tiêu dài hạn, theo lời của Bailey, là thiết lập một “mối liên kết từ tính và tình yêu chân chính vốn phải chữa lành, nâng đỡ và kích thích tất cả những gì mà nó có thể tiếp xúc”. Những người chữa lành “đã thiết lập được sự tiếp xúc linh hồn và làm việc thông qua linh hồn của mọi người” sẽ “nghiên cứu các quy luật của cuộc sống, đó là những quy luật của sức khỏe và của mối quan hệ đúng đắn” và tìm cách tạo ra cũng như nuôi dưỡng những hạt giống của các nền văn hóa và nền văn minh mới.

KẾT LUẬN

Văn hóa dân gian về các tiên nữ gần như mang tính phổ quát, và các kinh sách trên thế giới chứa đựng vô số tài liệu tham khảo về các thiên thần. Tuy nhiên, nhận thức về phạm vi tiến hóa của deva và vai trò của nó trong đời sống hành tinh vẫn còn hạn chế cho đến thời hiện đại. Sự hiểu biết đã tăng lên đáng kể trong 100 năm qua khi những quan sát thấu thị mới được báo cáo và những giáo lý nội môn mới được tiếp nhận.

Trong số nhiều chức năng kiến tạo hình thể của các deva có việc tạo ra các thể vật lý, cảm xúc và trí tuệ của chính chúng ta. Không có lý do gì để nghi ngờ rằng các deva cũng đưa hình thể con người đến tuổi trưởng thành và sửa chữa nó khi có khiếm khuyết xảy ra - miễn là thái dương thiên thần đánh giá rằng kiếp nhân sinh đó nên được tiếp tục. Việc sửa chữa có thể diễn ra mà không cần nhận thức hay sự hợp tác ở cấp độ phàm ngã, nhưng liệu pháp chữa lành dựa trên niềm tin rằng quá trình này có thể được tăng cường và đẩy nhanh. Bài viết này đã khám phá khả năng rằng sự hợp tác giữa chúng ta và quá trình tiến hóa deva có thể dẫn đến các liệu pháp tốt hơn. Vì năng lực của chúng ta có hạn, và vì lý do an toàn, các lời cầu thỉnh giúp đỡ phải được gửi đến các cấp bậc deva cao hơn, để họ tự giám sát công việc của những nhà kiến tạo vận dụng vật chất tinh linh.

Chữa lành là một chủ đề rộng lớn, bao gồm tự chữa lành, chữa lành cho một người ở gần hoặc ở xa, và sự chữa lành bởi các nhóm. Nó có thể bao gồm việc chữa lành cho các khu vực địa lý và toàn bộ hành tinh; vai trò của deva trong những công việc như vậy xứng đáng được nghiên cứu thêm. Bài viết này đã tập trung vào việc chữa lành cho cá nhân nhưng cũng đề cập đến việc chữa lành ở quy mô lớn hơn với hy vọng kích thích những nghiên cứu mới.

Liệu pháp chữa lành, đặc biệt là khi nó liên quan đến sự hợp tác với quá trình tiến hóa của deva, vẫn còn đang ở giai đoạn sơ khai. Chúng ta cần nhiều kiến thức và kinh nghiệm hơn nữa, và chúng tôi hy vọng rằng những sinh mệnh tiến hóa trên các cõi nội giới - bao gồm cả chính các deva bậc cao - có thể hướng dẫn chúng ta. Trước khi chúng ta có thể mong đợi điều này xảy ra, chúng ta phải rõ ràng về động cơ và sự tận tâm phụng sự của chính mình, đồng thời cởi mở với bất kỳ quá trình học hỏi nào có thể cần thiết. Giống như tất cả các công việc nội môn hiện đại, kiến thức mới rất có thể sẽ được trao cho những nhóm sẵn sàng làm việc cùng nhau và chia sẻ chuyên môn của họ vì lợi ích chung.

Về các tác giả:

Belinda Baird sống tại New Zealand nhưng đã đi du ngoạn rất nhiều nơi trên thế giới. Bà đã nghiên cứu các tác phẩm của Chân Sư Djwhal Khul trong 35 năm và từng làm giáo viên tại một trường Waldorf. Bà đặc biệt quan tâm đến các hoạt động thiền nhóm nhằm chữa lành hành tinh và phát triển tâm thức cộng đồng ở cả cấp độ địa phương lẫn quốc tế.

Tiến sĩ John F. Nash là một học viên, tác giả và giáo viên lâu năm trong lĩnh vực nội môn (esoteric). Hai cuốn sách của ông, Quest for the Soul và The Soul and Its Destiny, đã được đánh giá trên ấn bản Mùa Đông năm 2005 của tạp chí The Esoteric Quarterly. Cuốn sách mới nhất của ông, The Sacramental Church, đã được xuất bản trong năm 2011.  

Nguồn: Devas and Healing Process, Belinda Baird and John F. Nash, The Esoteric Quarterly, 2011. 


Friday, 23 October 2026

Con Đường Đệ Tử


(William Meader)

Trong Triết học Nội môn, thuật ngữ "người đệ tử" (disciple, môn sinh) hay "đời sống môn sinh" (discipleship) có hai định nghĩa rộng lớn:

(1) Trở thành người môn sinh của chính Linh hồn mình.

(2) Là người đang bước đi trên con đường đạo, có sự thức tỉnh tâm linh ở một mức độ nhất định và dần thiết lập sự kết nối năng lượng với Ashram (Đạo Viện) Nội tâm. 

1. MÔN SINH CỦA CHÍNH LINH HỒN MÌNH (Disciple of One's Own Soul)

Đây được coi là hình thái môn sinh thực sự và quan trọng hàng đầu. Chân Sư vĩ đại nhất mà một người có thể noi theo chính là bản thể cao cả, những phẩm tính tâm linh sâu thẳm bên trong chính mình. 

Một người không thể thực sự trở thành môn sinh của linh hồn mình cho đến khi trải qua sự Thức tỉnh trong một kiếp sống nào đó. Trước sự thức tỉnh, con người sống hoàn toàn bị chi phối bởi bản ngã phàm ngã. Khi sự thức tỉnh diễn ra, cá nhân lần đầu tiên nhận biết rõ ràng về tính nhị nguyên (duality) bên trong: nhận ra những phẩm tính cao cả sâu thẳm và dần tin tưởng rằng tiếng gọi nội tâm ấy chính là bản thể chân thật mà mình đang tiến hóa để trở thành. 

Trở thành môn sinh của linh hồn đồng nghĩa với việc cam kết “chuyển hóa hạ thể (phàm ngã), uốn nắn các khuynh hướng của phàm ngã để nó trở thành người phụng sự trung thành và đúng đắn cho mục tiêu của Linh hồn.

Càng sống đời sống môn sinh đáp ứng với Linh hồn, khao khát và ý thức trách nhiệm phụng sự càng cắm rễ sâu sắc vào đời sống. Cá nhân thôi thúc muốn đóng góp và nâng cao những giá trị vượt ra ngoài bản thân mình.

2. MÔN SINH CỦA ĐẠO VIỆN NỘI TÂM (Disciple of the Inner Ashram)

Triết học Nội môn khẳng định vị trí thực sự của Ashram không nằm ở bên ngoài mà nằm sâu bên trong, trên cõi Bồ-đề (Buddhic plane) – tầng tâm thức sâu hơn cả cõi Linh hồn. Có 7 Ashram nội tâm tương ứng với Bảy Cung (7 Rays) của Linh hồn. Linh hồn của mỗi người đóng vai trò là một đại biểu phụng sự cho mục tiêu và sứ mệnh của Ashram mà nó thuộc về.

Trở thành môn sinh của Ashram là tiến trình xây dựng sự nhạy bén và đón nhận ngày càng nhiều những hướng dẫn và nhắc nhở trực giác từ Ashram cũng như vị Chân Sư lãnh đạo Ashram đó.

Đời sống môn sinh được chia thành nhiều cấp độ/giai đoạn khác nhau, phụ thuộc vào mức độ thấu hiểu trực giác và sự gắn kết mật thiết của hành giả với Ashram.

CỘT MỐC CUỘC ĐIỂM ĐẠO LẦN THỨ BA - CHUYỂN DỊCH SANG ĐIỂM ĐẠO ĐỒ

Sự Thức tỉnh chỉ là bước khởi đầu của Con đường Đệ Tử (Path of Discipleship). Mỗi bước đi và mỗi kỳ điểm đạo tiếp theo là những giai đoạn gia tăng sự mật thiết với Ashram và chuyển hóa hạ thể.

Cuộc điểm đạo lần thứ ba – Sự Biến Dung (The Transfiguration) là một trạng thái tiến hóa rất cao – lời hứa hẹn tương lai cho tất cả nhân loại. Tại thời điểm này, Linh hồn và Phàm ngã hoàn toàn hòa quyện làm một (Soul-Personality Fusion). 

Ở giai đoạn đệ tử, trọng tâm của người tu học là rèn luyện, tịnh luyện phàm ngã (thân, tâm, trí) để vâng phục Linh hồn, đồng thời học cách lắng nghe và đáp ứng với các nhắc nhở trực giác từ Ashram.

Khi thành tựu cuộc điểm đạo lần thứ ba, hành giả bước ra khỏi Con đường Đệ Tử và chính thức trở thành một điểm đạo đồ thực thụ (True Initiate), được thu nhận và đắm mình hoàn toàn vào đời sống nội tại của Ashram Nội tâm. Họ trở thành một thành viên/khí cụ đắc lực trực tiếp đồng hành cùng Chân Sư và Thánh Đoàn để thực thi Thiên cơ.

~ Từ bài giảng "Discipleship" của Thầy William Meader



Sunday, 11 October 2026

Thái Dương Thiên Thần và Thiên Thần Hiện Diện - Tình Thương trên Đường Đạo



(Leoni Hodgson)

Hành trình tâm linh đôi khi có thể mang lại cảm giác cô đơn. Chúng ta vật lộn với những thói quen cũ, trải qua đau khổ và vô định, rồi tự hỏi liệu mình có đang thực sự tiến bộ hay không.

Dù vậy, các giáo lý bí truyền mang đến một tư tưởng đầy an ủi: xuyên suốt hành trình này, chúng ta luôn có người đồng hành. Đằng sau những sự kiện bên ngoài của cuộc sống là một tình yêu tinh thần kiên nhẫn, giúp chúng ta thức tỉnh để nhận ra bản thể đích thực của mình.

Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét sự trợ giúp đó thông qua Thái Dương Thiên Thần và Thiên Thần Hiện Diện.

Trong bài thiền về Con Đường Ánh Sáng Nội Tâm, chúng ta men theo một sợi chỉ vàng hướng vào bên trong, hướng về linh hồn. Sau đó là một lời mời gọi phi thường: đứng trước Thiên Thần Hiện Diện và suy ngẫm về câu nói, “Thiên Thần này chính là bạn.” Cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi ra sao nếu ta bắt đầu sống trong ánh sáng của nhân dạng vĩ đại hơn đó?

THÁI DƯƠNG THIÊN THẦN: SỰ HY SINH DÀI LÂU CỦA TÌNH YÊU 

Các giáo lý miêu tả các Thái Dương Thiên Thần, hay các Chúa tể của Ngọn lửa, như những vị tổ tiên thiêng liêng của chúng ta - những Người Quan Sát đã tuôn trào sinh lực của chính mình trong sự hy sinh qua những chu kỳ luân hồi dài đằng đẵng, để chúng ta có thể trở thành những con người có ý thức về bản thân.

Ở giai đoạn đầu của sự tiến hóa nhân loại, họ đã trao đi tinh túy của chính mình để thắp lên tia sáng của trí tuệ. Thông qua món quà này, chúng ta có được khả năng tư duy, khả năng nhận thức bản thân và cuối cùng là ý thức được nguồn gốc thiêng liêng của mình.

Một sự so sánh tuyệt đẹp giúp chúng ta chiêm nghiệm về mối quan hệ này. Chân thần (Monad), Nguồn cội thiêng liêng của chúng ta, có thể được hiểu như người cha trao đi hạt giống của sự sống tâm linh. Thái Dương Thiên Thần có thể được hiểu như người mẹ trao đi thực thể của chính mình để sự sống đó có thể nảy nở.

Hãy nghĩ về tình yêu và sự kiên nhẫn ẩn chứa trong món quà đó. Qua vô số kiếp luân hồi, qua những sai lầm và khám phá của chúng ta, Thái Dương Thiên Thần vẫn tiếp tục công việc của mình, thu hút ánh sáng, tình yêu và trí tuệ của linh hồn để bộc lộ thông qua phàm ngã. Chúng ta có thể nghe thấy tiếng gọi của ngài như một sự thôi thúc hướng tới sự tử tế, một sự bất mãn ngày càng lớn đối với những tham vọng thuần túy cá nhân, hoặc một cuộc tìm kiếm ý nghĩa sâu sắc hơn khi đau khổ làm đảo lộn cuộc sống của chúng ta.

Điều này gợi nhớ đến bài thơ quen thuộc Dấu Chân (Footprints). Khi nhìn lại cuộc đời, một người chỉ thấy một dấu chân duy nhất trong những khoảng thời gian khó khăn nhất. Những gì tưởng chừng như là sự bỏ rơi lại hóa ra là khoảng thời gian mà họ đang được bế bồng.

Hình ảnh đó nắm bắt được phần nào tình yêu thương nâng đỡ này. Ngay cả khi chúng ta không thể cảm nhận được, sự hỗ trợ tâm linh có thể đang tiếp thêm sức mạnh để chúng ta chịu đựng, học hỏi và vươn lên.

THIÊN THẦN HIỆN DIỆN: TIẾP CẬN VINH QUANG ẨN GIẤU

Trong khuôn khổ mà chúng ta đang xem xét, Thái Dương Thiên Thần hiện thân cho cung linh hồn, trong khi Thiên Thần Hiện Diện đại diện và hé lộ sự sống sâu xa hơn của Chân thần.

Thái Dương Thiên Thần giúp chúng ta trở thành những linh hồn sống động, có ý thức. Thiên Thần Hiện Diện thu hút chúng ta hướng về nhân dạng của chính mình như những Ngọn Lửa Thiêng - những biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất.

Việc xây dựng đường Antahkarana phát triển cây cầu nhận thức hướng tới Tam Nguyên Tinh thần. Thiền định về Thiên Thần Hiện Diện giúp chúng ta chiêm nghiệm và hiện thân cho sự hợp nhất vĩ đại đó.

SỐNG TRONG ÁNH SÁNG CỦA THIÊN THẦN

Ánh sáng của Thiên Thần cũng phơi bày những gì cần phải thay đổi. Trước Cánh cửa Điểm đạo là vùng đất thiêu đốt, nơi những nỗi sợ hãi, sự chấp trước và những điểm yếu thầm kín bị phơi bày. Mục đích của nó là sự giải thoát: những gì được đưa ra ánh sáng có thể được thấu hiểu, thanh tẩy và chuyển hóa.

Chúng ta có thể tham gia vào công việc này mỗi ngày. Khi một phản ứng cũ trỗi dậy, ta có thể tự hỏi: "Thiên Thần sẽ làm gì? Tình yêu của Thượng Đế sẽ biểu hiện qua tôi lúc này như thế nào?" Câu trả lời có thể là sự kiên nhẫn, sự tha thứ, lòng can đảm hoặc sự khiêm nhường. Mỗi khi chúng ta hành động từ trung tâm sâu sắc hơn đó, bản chất tâm linh của chúng ta sẽ tìm thấy sự biểu hiện trọn vẹn hơn.

Bài thiền sau đó đưa chúng ta trở lại thế giới, mang theo ánh sáng của Thiên Thần hướng về những người bạn đồng tu, những người thân yêu và những ai đang gặp đau khổ. Tình yêu mà chúng ta tiếp xúc bên trong có thể trở thành một đôi tai lắng nghe, một lời nói thấu đáo hoặc một hành động giúp đỡ. Chúng ta có thể trao đi phần ánh sáng và tình yêu mà ta đang có ngày hôm nay.

Hãy cùng khép lại bằng lời thỉnh nguyện: “Nguyện cầu cho năng lượng của Bản thể thiêng liêng truyền cảm hứng và ánh sáng của Linh hồn dẫn lối; xin cho con được dẫn dắt từ bóng tối đến ánh sáng, từ cõi mộng ảo đến cõi chân thực, từ cái chết đến sự bất tử.”

Mong sao chúng ta ngày càng ý thức hơn về sự hiện diện tràn đầy tình yêu thương đang đồng hành cùng mình. Mong sao chúng ta học được cách đứng trong ánh sáng ấy. Và mong sao tình yêu chúng ta nhận được sẽ trở thành tình yêu mà chúng ta trao đi.

[Trích từ bài nói chuyện sau khi thực hành bài thiền: Con Đường Ánh Sáng Nội Tâm]

~ Leoni Hodgson 

Ánh Sáng của Kế Hoạch Hành Tinh

 


Để Mục Đích được hiển lộ trên Trái Đất, Nhân loại phải phát triển năng lực nhận thức về Kế Hoạch Thiêng (Thiên Cơ) và sự đồng nhất với Toàn Thể; bởi vì, ngay cả khi tầm nhìn chưa rõ ràng, một cảm giác về sự cân bằng và an toàn sẽ xuất hiện, dẫn đến việc sắp xếp lại các giá trị cần thiết và giúp người ta nhận ra rằng có một mục đích và một điểm đến đang ẩn chứa bên trong mọi vấn đề của cuộc sống thường nhật.

Nhân loại không được nản lòng trước sự bao la của Vũ Trụ mà phải nhìn nhận Trái Đất bé nhỏ như một phần của Toàn Thể, mở rộng tâm thức để khắc sâu tầm nhìn về Kế Hoạch của Thánh Đoàn (hierarchical Plan) và thấu hiểu nó ngày một trọn vẹn hơn.

Kế Hoạch Hành Tinh là một cấu trúc năng lượng mà thông qua đó Mục Đích có thể biểu hiện trong vật chất; nó được tạo thành từ Tình Yêu và Ánh Sáng được định hướng bởi Ý Chí. Do đó, chúng ta có thể nói rằng Tình Yêu là điều gắn kết, Ánh Sáng là điều hiển lộ, và Ý Chí là điều dẫn dắt hướng tới một mục đích. Như vậy, Ánh Sáng chỉ đường, Tình Yêu tạo nên sự gắn kết, và Ý Chí làm cho sự viên mãn trở nên khả thi.

Khi nói về Ánh Sáng, chúng ta không chỉ đơn thuần đề cập đến một thứ ánh sáng soi tỏ tâm thức cá nhân, mà là thứ giúp chúng ta nhìn thấy toàn bộ bản thiết kế tổng thể. 

Kế Hoạch được kết nối với Hoàng Đạo, được xem như một sân khấu vĩ đại nơi chu kỳ của các Vì Tinh Tú liên tục phác họa nhịp điệu an bài của thái dương hệ.

Một cách mang tính biểu tượng, bầu trời trở thành một mô hình để chiêm nghiệm và phản chiếu xuống Trái Đất, và nhân loại không được là một khán giả thụ động mà được kêu gọi trở thành một người cộng tác có ý thức trong Kế Hoạch Thiêng.

Ánh Sáng mà chúng ta tiếp nhận bên trong không được tìm kiếm chỉ vì mục đích trải nghiệm cá nhân đầy hứng khởi, mà để phụng sự tốt hơn và trở thành sự dẫn dắt, sự thấu hiểu và, cuối cùng, là hành động.

Để hiểu điều này rõ hơn một chút, chúng ta có thể tưởng tượng một thành phố lớn nhìn từ trên cao vào ban đêm; trên mặt đất, chúng ta thấy hàng ngàn người, xe cộ, đường sá, nhà cửa và các nút giao thông, mọi thứ dường như bị phân mảnh; sau đó chúng ta bay lên cao hơn rất nhiều và, đột nhiên, ta phát hiện ra rằng toàn bộ tạo thành một khối hình học, và những gì dường như ngẫu nhiên khi nhìn từ dưới lên lại tuân theo một trật tự.

Ánh Sáng của Kế Hoạch không loại bỏ những khó khăn của thế giới nhưng đặt chúng vào một tầm nhìn rộng lớn hơn, và có lẽ đây chính xác là lý do tại sao Ánh Sáng lại quan trọng đến vậy trong những thời khắc khủng hoảng: không nhất thiết vì nó làm cho mọi thứ trở nên dễ dàng, mà vì nó giúp chúng ta không bị lạc lối.

Kế Hoạch Thiêng (Thiên Cơ) không phải là thứ mà nhân loại tự phát minh ra, mà là thứ nhân loại tìm cách nhận biết và thấu cảm để từ đó có thể hợp tác với nó; và chính tại đây Ý Chí trở thành nền tảng, bởi vì Ý Chí không có Ánh Sáng có thể trở nên mù quáng, Ánh Sáng không có Ý Chí có thể chỉ dừng lại ở sự chiêm nghiệm, và Tình Yêu thiếu đi cả hai có thể trở thành không gì hơn một thứ tình cảm trần tục. Khi Ánh Sáng, Tình Yêu và Ý Chí hòa hợp, sự phụng sự có ý thức đối với Kế Hoạch Thiêng được sinh ra.

Kế Hoạch Thiêng  là Mục Đích bắt đầu trở nên có thể lĩnh hội được: một hướng đi, một cấu trúc hình học, một trật tự tiến hóa. Sự biểu lộ (Manifestation) là những gì xảy ra trên thế giới khi các sinh thể có ý thức trở thành công cụ của Kế Hoạch Thiên đó, và Ánh Sáng là thứ cho phép tâm thức nhìn thấy một phần của nó và nhận ra chặng đường tiếp theo cần phải bước đi. 

Ánh Sáng không chỉ đơn thuần là một trong những yếu tố của Kế Hoạch Thiêng mà còn là phương tiện để qua đó tâm thức có thể nhận diện Kế Hoạch; giống như Kế Hoạch là một công trình kiến trúc đồ sộ và Ánh Sáng giúp vị kiến trúc sư bên trong đọc được bản vẽ thiết kế của nó.

Thánh Đoàn tinh thần đóng vai trò trung gian giữa Mục Đích và nhân loại mà nó đại diện, bởi vì sẽ là không đủ nếu Kế Hoạch Thiêng chỉ tồn tại ở các cõi giới cao hơn; nó phải trở thành tâm thức trên Trái Đất. Đây là một trong những trách nhiệm to lớn của nhân loại, nhưng cũng là nguồn cội của niềm hỉ lạc, bởi vì con người trở thành một điểm sáng khi họ phát triển được một tâm thức đủ tính bao trùm và bắt đầu tự hỏi mình phải làm gì để một điều gì đó vĩ đại hơn có thể biểu lộ qua mình. 

Ngay tại khoảnh khắc đó, một sự chuyển tiếp lớn lao từ một người chí nguyện trở thành người cộng tác tích cực diễn ra, và lúc bấy giờ Ánh Sáng không còn đơn thuần là thứ được tiếp nhận; thay vào đó, chính bản thân người đó trở thành một điểm để Ánh Sáng có thể đi vào Đời Sống. Tuy nhiên, điều này không làm cho họ trở nên đặc biệt; ngược lại, gần như trái ngược hoàn toàn, vì họ trở nên trong suốt, và phàm ngã dần thôi mong muốn làm trung tâm, thay vào đó trở thành một công cụ tiếp nhận, gìn giữ và phân phát.

Khi một cuộc khủng hoảng nổ ra, nó có thể được xem là khoảnh khắc mà hình thể cũ không thể chứa đựng Ánh Sáng mới được nữa; và, từ góc nhìn tiến hóa, có thể là nó phải biến đổi, vì vậy một cuộc khủng hoảng có thể trở thành điểm mà tại đó một phần mới của Kế Hoạch Thiêng cuối cùng cũng có thể tự biểu lộ.

Từ góc nhìn chiêm tinh học, ngày nay chúng ta thấy Sao Hải Vương và Trái Đất trùng tụ (conjunct) với Sao Thổ ở chòm sao Bạch Dương, và chúng ta biết rằng:

Sao Hải Vương là tầm nhìn, sự cảm nhận về Kế Hoạch Thiêng (Thiên Cơ).

Sao Thổ là cấu trúc cho phép tầm nhìn được hóa thân.

Trái Đất là cõi biểu hiện cụ thể.

Bạch Dương là hành động đầu tiên của Ý Chí, là sự khởi đầu.

Do đó, chúng ta có thể tóm tắt tính biểu tượng như sau:

Sao Hải Vương nhìn thấy Ánh Sáng của Kế Hoạch, Sao Thổ xây dựng một cỗ xe cho nó, và Bạch Dương đưa nó tới điểm khởi đầu của sự biểu lộ.

Sao Hải Vương nhận thức tầm nhìn và là sự nhạy cảm đối với Kế Hoạch, với lý tưởng, với thực tại tinh tế. Sao Thổ cấu trúc hóa tầm nhìn và đòi hỏi những gì được thấu cảm phải trở thành hình hài, kỷ luật và trách nhiệm. Bạch Dương khơi dậy xung lực đầu tiên và là ngọn lửa nói rằng: "Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu."

Bởi vậy: Sao Hải Vương nhìn thấu, Sao Thổ kiến tạo, Trái Đất biểu lộ và Bạch Dương vận hành mọi thứ.

Ánh Sáng không chỉ để chiêm nghiệm, mà tìm kiếm một điểm neo giữ trên Trái Đất; nó không lưu lại trên cao mà tìm kiếm một cây cầu nối giữa những gì được thấu cảm và những gì có thể được hiện thực hóa.

Cầu mong Ánh Sáng của Thiên Cơ tìm thấy ở Trái Đất một hình hài, và ở Ý Chí sự can đảm để biểu lộ nó.

Ánh Sáng của Kế Hoạch Thiêng không chỉ cho chúng ta thấy những gì đang hiện hữu; nó còn bộc lộ cho chúng ta thấy những gì có thể trở thành, và Ý Chí yêu cầu chúng ta tham gia vào sự chuyển hóa đó bằng cách tự hỏi bản thân xem phần nào của Thế Giới Mới mà chúng ta đã có thể mang vào hiện thực thông qua tâm thức, lời nói và hành động của chính mình, rồi nói rằng:

"Tôi nhìn thấy một tia lửa của Kế Hoạch Thiêng và tôi chọn mang lại cho nó hình hài."

~ Nguồn: The Planetary System



Ba trụ cột thực hành tâm linh


Ba trụ cột là ba kỷ luật tâm linh thiết yếu nhất được khuyến nghị trong triết học huyền môn. Đây là những phương pháp nền tảng giúp hành giả phát triển tâm thức và kiến tạo chiếc cầu nối nội tâm vĩ đại (Antahkarana). Ba trụ cột này là những phương tiện dẫn dắt hành giả trên con đường giác ngộ, hướng tới một đời sống thấm đẫm ánh sáng của linh hồn (soulful living).

Ba trụ cột này đóng vai trò bệ đỡ để xây dựng Antahkarana – cây cầu ánh sáng nội tâm kết nối phàm ngã (personality) với Linh Hồn (soul), và từ Linh Hồn vươn tới Chân Thần (Monad) cùng Ashram (Đạo viện) nội tâm.

1. Trụ cột thứ nhất: Phụng sự Nhân loại từ Trái tim (Heartfelt Service to Humanity). Phụng sự là biểu hiện tự nhiên và nổi bật nhất của đời sống người đệ tử (disciplic life). Khi sự hợp nhất với Linh hồn ngày càng sâu sắc, một xung lực mãnh liệt sẽ thôi thúc họ cống hiến và nâng tầm đời sống nhân loại.

Sự dấn thân này không xuất phát từ khát khao danh vọng hay áp lực trách nhiệm, mà nảy sinh như một nhu cầu tự nhiên, vô vị lợi vì lợi ích đích thực của cái toàn thể.

Trong triết học huyền môn, sự tiến hóa của Linh hồn bị chi phối bởi các quy luật tâm linh, trong đó quy luật thứ ba là Luật Phụng sự. Khi linh hồn trưởng thành, ý thức trách nhiệm tất yếu sẽ hóa thân thành những hành động phụng sự thiết thực trong đời sống.

2. Trụ cột thứ hai: Học tập và Nghiên cứu (Study). Kỷ luật học tập trong huyền môn không dừng lại ở việc tích lũy kiến thức thông thường, mà hướng đến việc đánh thức và rèn luyện trí trừu tượng (Thượng trí).

Hạ trí (Concrete Mind, Lower Mind): Là phương diện tâm trí cụ thể, thiên về xử lý dữ liệu thực tế, phân tích logic và quy luật nhân - quả (thường được hệ thống giáo dục phổ thông chú trọng).

Thượng trí (Abstract Mind, Higher Mind): Là phương diện tâm trí triết học, sở hữu khả năng bao quát bức tranh toàn cảnh và thấu triệt những khuôn mẫu nền tảng (underlying blueprints) ẩn sau mọi hình tướng vật chất.

Thượng trí ngự trị tại cõi trí trừu tượng – cũng chính là nơi trú ngụ của Thể Nguyên Nhân (Causal Body), phương tiện biểu lộ của Linh hồn. Việc rèn luyện Thượng trí giúp tâm thức phàm nhân bước vào "vùng hào quang" của Linh hồn, dọn đường để tiếp nhận minh triết và những trực giác thấu thị từ Ashram (Đạo viện nội tâm).

3. Trụ cột thứ ba: Tham Thiền (Meditation).  Thiền định là kỷ luật tối quan trọng giúp hành giả học cách tách rời (abstract) tâm thức khỏi các rung động thô trược của phàm ngã – bao gồm cảm giác của thể xác, cảm xúc dao động và những suy tư cụ thể – để chìm sâu vào các tầng tâm thức vi tế.

Thông qua thiền định, cá nhân thực sự chứng ngộ được rằng bản thể chân thật của mình vĩ đại và bao trùm vượt lên trên mọi chiều kích cảm xúc hay tư duy phàm nhân.

Thiền định là phương tiện trực tiếp dệt nên đường dẫn Antahkarana, mang những thấu cảm, minh triết và mục đích cao cả của Linh hồn rót thẳng vào ý thức của não bộ vật lý.

Cầu Antahkarana không phải là một cấu trúc tự nhiên có sẵn, mà bắt buộc phải được đan dệt thông qua nỗ lực bền bỉ. Sự đan dệt ấy chỉ có thể thành tựu khi hành giả biết dung hợp hài hòa cả ba trụ cột – Phụng sự, Học tập và Thiền định – vào từng khoảnh khắc của đời sống thực hành hằng ngày.

~ Từ bài giảng của Thầy William Meader

Tâm thức tổng hợp


Tổng hợp" đại diện cho một dạng nhận thức rất cao, được coi là cánh cửa dẫn vào tâm thức thiêng liêng (divine consciousness), tính phổ quát (universality) và sự toàn thể (allness). Trạng thái này vượt lên trên hầu hết các tiến trình nhận thức thông thường, vượt qua cả tâm thức linh hồn, vượt qua minh triết được lưu trữ trong thể nguyên nhân (causal body) cũng như chất lượng tình thương cao nhất mà con người có thể trải nghiệm.

Hành trình tiến hóa tâm thức từ động vật đến sự giác ngộ hoàn toàn được chia thành 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1 – Tâm thức Chia rẽ (Separative Consciousness): 

Là giai đoạn dài nhất, tập trung vào việc hình thành và phát triển phàm ngã thấp (lower ego). Giai đoạn tâm thức chia rẽ giúp con người tách khỏi phản ứng động vật thuần túy để tạo nên nhận thức, tư tưởng, cảm xúc và hoạt động mang tính cá nhân hóa. Đây là bước đi cần thiết trong hành trình tiến hóa.

Giai đoạn 2 – Tâm thức Hợp nhất (Unitive Consciousness): 

Bắt đầu từ sự "Thức tỉnh" (The Awakening) – thời điểm cá nhân lần đầu tiên nhận biết thể nguyên nhân và tâm thức linh hồn sâu thẳm bên trong. Đây là giai đoạn sống đời sống môn sinh (disciplic life) – học cách trở thành người đệ tử của chính linh hồn mình. Hành giả nỗ lực hợp nhất các phần bên trong (sự hòa quyện giữa linh hồn và phàm ngã) cũng như tạo ra sự hợp nhất ở thế giới bên ngoài.

Giai đoạn 3 – Tâm thức Tổng hợp (Synthetic Consciousness): 

Đánh dấu bước chuyển từ đời sống môn sinh sang đời sống của một người đã qua điểm đạo (initiate life) – được điểm đạo tiến nhập vào đạo viện (ashram) nội tâm. Tiến trình này diễn ra khi hành giả tiến vào cõi Bồ-đề (Buddhic plane) – nơi tọa lạc của các ashram. Năng lượng "Tổng hợp" hóa giải hoàn toàn "tà thuyết về sự chia rẽ" (heresy of separateness) – một tác dụng phụ tiêu cực phát sinh từ giai đoạn tâm thức chia rẽ.

Sự hợp nhất giữa phàm ngã và linh hồn đạt tới trạng thái hoàn tất tại Kỳ Điểm đạo lần thứ ba (Third Initiation). Tại thời điểm này, linh hồn và phàm ngã hoàn toàn hòa quyện làm một. Hành giả lần đầu tiên có được thoáng nhìn về Chân Thần (Monad), đồng thời nhận biết được trải nghiệm về nhận thức tổng hợp (synthetic consciousness).

Bốn Lớp Cánh Hoa của Thể Nguyên Nhân (Egoic Lotus – Hoa Sen Chân Ngã)

Thể nguyên nhân (hay Hoa Sen Chân Ngã) được miêu tả gồm 12 cánh hoa chia thành 4 lớp phản ánh sự phát triển tâm thức:

1. Lớp cánh hoa Tri thức (Knowledge petals): Mở ra đầu tiên trong tiến trình.

2. Lớp cánh hoa Tình thương (Love petals): Đánh dấu sự phát triển tình thương sâu sắc của linh hồn.

3. Lớp cánh hoa Hi sinh (Sacrifice petals): Thể hiện các phẩm tính hi sinh vì nhu cầu của linh hồn và nhân loại.

4. Lớp cánh hoa Tổng hợp (Synthetic petals): Lớp cánh hoa cuối cùng. Khi lớp này bắt đầu mở ra, hành giả bắt đầu bước vào trường năng lượng tổng hợp.

"Nhận thức Tổng hợp" (Synthetic Awareness) là khả năng nhìn thấy tất cả mọi vật như thể nằm bên trong chính mình, mà không hề có một chút bản ngã (I-ness) nào trong cái nhìn đó. Đó là sự hòa nhập hoàn toàn vào tính phổ quát. Hành giả đạt điểm đạo lần thứ 3 bắt đầu cảm nhận và hướng tới trạng thái này, nhưng chỉ khi đạt tới cấp độ của một Chân Sư hoàn toàn (thường ở kỳ điểm đạo lần thứ 4), cá nhân mới chính thức đắm mình hoàn toàn và vĩnh viễn trong nhận thức tổng hợp.

~ Từ bài giảng của Thầy William Meader




Saturday, 19 September 2026

Lửa và Tinh Linh của Lửa


Zarathustra with eternal fire of truth (Linda Kloss)

Tác giả: Geoffrey Hodson

...Trong thời xa xưa, các Chúa tể lửa thái dương đã phái một sứ giả đến trái đất để thành lập tôn giáo của lửa và truyền đạt thông điệp của lửa cho loài người. Tên ngài là Zarathustra; ngài là một trong những đóa hoa của nhân loại trái đất, một trong những trái ngọt đầu mùa, người đã tiến bước vào cõi lửa và học cách cư ngụ trong đó, đã đoạt được tri thức và quyền năng để đứng vững vô sự trước các Chúa tể thái dương, để tiếp thu từ họ thông điệp ngài phải mang đi và đón nhận món quà là sự làm chủ ngọn lửa. Ngài hiện diện giữa những người dân của mình giữa những lưỡi lửa và được bao quanh bởi các tinh linh của lửa. Ngài nói về ngọn lửa như một tác nhân tái tạo và biến đổi, đồng thời dạy người dân của mình cách biến đổi cuộc đời họ bằng ngọn lửa ý chí của chính họ hòa làm một với Ý chí thiêng liêng. Ngài dạy rằng mọi điều xấu xa trong cuộc đời và trên mảnh đất của họ phải bị ngọn lửa thiêu rụi, nhờ đó họ mới có thể chuẩn bị một ngôi đền cho sức mạnh tái tạo của mặt trời tâm linh. Nắm được lời nói quyền năng, ngài đã gọi ngọn lửa từ trên cao giáng xuống; từ ngọn lửa đó, những ngọn đèn trong đền thờ và lửa trên các bếp lò được thắp sáng khắp xứ sở.

Sứ mệnh của Zarathustra đánh dấu một kỷ nguyên trong đời sống tiến hóa của hành tinh, bởi ngài đã mang nguyên tố lửa tiếp xúc gần gũi hơn với nguyên tố đất. Cho đến khi các nhà hóa học khám phá ra tầm quan trọng của lửa như một nguyên tố và học cách theo dấu nó bên trong nguyên tử và xuyên suốt mọi giới của Tự nhiên, ý nghĩa của lời tuyên bố này mới có thể được thấu hiểu trọn vẹn.

Sau thời của Zarathustra, một sự thay đổi đã diễn ra trong mọi nguyên tố trần gian, vì ngài đã mang thêm một lượng lửa thái dương vào trung tâm của hạt nguyên tử vật lý mà từ đó mọi nguyên tố hóa học được hình thành. Ngài đã thiết lập vương quốc của lửa trên trái đất, và kể từ thời của ngài, mọi vật chất đã trở nên dễ uốn nắn hơn và phản ứng nhạy bén hơn với tư tưởng và ý chí.

Bất cứ khi nào ngọn lửa cháy trên bếp lò nhà bạn, nó đều tạo thành một phương tiện cho ngọn lửa thái dương; vì vậy, lửa ở khắp mọi nơi nên được coi là thiêng liêng. Việc thắp sáng một ngọn lửa sẽ triệu hồi một tinh linh lửa (salamander); ngọn lửa bếp lò có tinh linh tự nhiên thích hợp của nó, những đám cháy rừng cũng có tinh linh riêng; một trận đại hỏa hoạn thu hút chúng với số lượng lớn, và chúng tìm đến để say sưa và hân hoan trước sự biểu lộ nguyên tố của mình trên trái đất. Vì chúng chỉ là hiện thân của ngọn lửa thái dương, nên chúng có thể được xem như đang truyền hồn cho ngọn lửa vật lý, mà đối với ngọn lửa đó, chúng có một mối quan hệ tương tự như mối quan hệ giữa khía cạnh lửa của Thái Dương Thượng Đế đối với chính bản thân chúng.

Núi lửa là những trung tâm nơi ngọn lửa thái dương được cô đặc và là nơi các tinh linh lửa tụ họp ở nhiều cấp độ khác nhau; vì bất cứ nơi nào nguyên tố của chúng hoạt động, nơi đó có sự hiện diện của các tinh linh lửa. Tít sâu bên dưới bề mặt trái đất có một ngọn lửa không thể dập tắt đang bốc cháy, một phần đích thực của ngọn lửa thái dương mà nhờ đó nó vẫn được nuôi dưỡng, và nó có một sự kết nối trực tiếp, liền mạch với ngọn lửa ấy. Nơi đó là chỗ cư ngụ của những thành viên hùng mạnh thuộc chủng tộc tinh linh lửa; nơi đó có rất nhiều trật tự tinh linh tự nhiên và thiên thần đang làm việc, bởi vì nguồn cội bên trong của sự sống và sức mạnh đối với hành tinh này tồn tại ở trung tâm trái đất. Tại đó, các sinh lực của nó được làm mới, vật chất cằn cỗi được tái nạp năng lượng, và các nguyên tử liên sao được khắc ghi mức độ rung động đặc biệt của hành tinh để chúng có thể hòa vào dòng chảy luân chuyển của đời sống nguyên tử trên hành tinh.

Sinh lực rực lửa của Thượng Đế trỗi dậy tại trung tâm trái đất. Việc lưu chuyển đó không cần đến những con đường trần thế; nó đến trực tiếp thông qua sự vận hành của cơ chế không gian đa chiều cao hơn mà nhờ đó hệ thống được sắp xếp. Đây là nơi lưu trữ và làm mới các năng lượng từ tính của hành tinh, mỗi năng lượng được phụ trách bởi một tinh linh tự nhiên và thiên thần thích hợp. Mỗi loại lực là một sự phản chiếu vật lý của một khía cạnh thuộc nguồn năng lượng thiêng liêng trung tâm và liên kết mật thiết với vùng lửa thái dương.

Mặt trời rực lửa - chứ không phải lớp vỏ vật lý của nó - là trạm phát năng lượng mà từ đó các nguồn lực ban sự sống của Thượng Đế được phóng chiếu ra khắp hệ thống. Các thiên thần lửa là các đặc vụ của sức mạnh đó, những kỹ sư phụ trách cơ chế mà qua đó nó tái tạo và biến đổi mọi sự sống bên trong phạm vi ảnh hưởng của nó. Đặc trưng nổi bật nhất của sức mạnh ngọn lửa là sự thay đổi; do đó ngọn lửa vật lý thiêu rụi theo quy luật tồn tại của nó, tức là tạo ra một sự thay đổi về hình thức, để những trật tự quyền năng mới có thể được giải phóng.

Nguyên tố vô hình này của lửa đang hoạt động phía sau toàn bộ hệ thống, cũng giống như các đặc vụ của nó. Trong mọi hòn đá, trong mọi viên sỏi, viên ngọc, cỏ cây, muông thú và con người, nó không ngừng tạo ra ảnh hưởng theo hướng thay đổi; nhờ sự hiện diện của nó, không có gì trong Tự nhiên có thể đứng yên; nó đảm bảo sự phát triển của hệ thống. Sức mạnh của nó được kiểm soát, không chỉ bởi các tinh linh tự nhiên – những sinh mệnh hoạt động theo bản năng trong công cuộc thay đổi, mà còn bởi những đại thiên thần lửa – những đấng tạo ra mọi sự thay đổi trên khắp hệ thống một cách có ý thức, để sự khai sinh mới được tạo ra có thể ngày càng phát triển gần gũi hơn với nguyên mẫu của nó trong tâm trí của Thượng Đế. Do đó, lửa là "sức mạnh làm cho vạn vật đổi mới" và sự thay đổi là khẩu lệnh vũ trụ, là định luật cơ bản xuyên suốt toàn bộ cõi lửa, là lời nói mà nhờ đó các năng lượng của nó được giải phóng và các cư dân của nó được triệu gọi.

Khi tia lửa vọt ra từ đá đánh lửa, sự thiêng liêng được hé mở; khi ngọn lửa được thắp lên trên bếp lò, Sự Hiện Diện thiêng liêng được triệu hồi; nơi sự thiêng liêng đó được hé mở và Sự Hiện Diện đó được triệu hồi, con người và thiên thần đều phải bày tỏ lòng tôn kính đối với Đấng mà nhờ đó họ có được sự sống. Những ngày của tín ngưỡng thờ lửa phải quay trở lại; trong trái tim và tâm trí con người, ngọn lửa thiêng liêng của sự sống thần thánh phải cháy sáng rực rỡ hơn khi mỗi người nhận ra mình là bản sao trần thế của Con Người rực lửa trung tâm đang cai trị với quyền năng tối thượng, Đấng có ngai vàng được đặt ở cả trong trái tim con người và trong trái tim rực lửa của vũ trụ.

Lửa là cha mẹ của mùa xuân, là lời hứa về sự đổi mới trong mọi thế giới; lửa ngự trị trong trái tim con người, lửa sưởi ấm huyết quản y; trong bản ngã vô hình của mình, y là một con người của lửa.

~ Geoffrey Hodson, Trích từ "Fire and the Spirits of Fire"