Tác giả: Thầy Hiếu Đức
Có một câu đủ để để soi gần như mọi biến cố của đời người, chỉ ra Cơ của Thiên đó là: Phản giả, Đạo chi động.
Câu này vốn viết trong Đạo Đức Kinh, và nếu chỉ hiểu là “gặp bế tắc thì quay đầu”, vẫn còn quá cạn so với những gì câu này có thể mở ra. Chữ Phản của Lão Tử không phải một mẹo xử thế anh chị à. Nó là thiên cơ của sinh thành.
Muốn hiểu nó, phải đi đến một chỗ rất ngược với thói quen của con người: Cầu sinh, chưa chắc phải nhìn vào chỗ sinh. Muốn thấy sinh, đôi khi phải nhìn vào chỗ tử.Muốn hiểu cái hữu, chưa chắc nhìn mãi vào những thứ đang hiện hữu mà có khi phải đi vào chỗ vô.
Muốn biết một sự vật sẽ đi đâu, đừng chỉ nhìn lúc nó đang lớn hãy nhìn xem trong cái lớn ấy, mầm suy đã bắt đầu sinh chưa. Muốn biết một người đã thực sự mạnh chưa, đừng nhìn lúc họ thắng hãy nhìn xem khi mất hết chỗ dựa, họ còn đứng được hay không. Muốn biết một đời người còn đường hay hết đường, đừng chỉ nhìn phía trước còn bao nhiêu cửa mà có khi cửa trước đã đóng hết, chính là lúc Đạo bắt đầu mở ở phía ngược lại.
Đó là: cầu tử tìm sinh.
Không phải cầu chết. Mà là đi đến tận cùng của cái đang chết để tìm xem cái gì đang được giải thoát khỏi hình hài cũ.
Đây là một tầng rất sâu của Thiên đạo. Bởi trời đất sinh vạn vật nhưng không giữ bất kỳ vật nào ở nguyên một hình. Xuân không giữ hoa. Hạ không giữ lá. Thu không giữ quả. Đông không giữ cành. Một năm muốn tiếp tục thì từng mùa phải chịu đi qua. Nếu mùa xuân sợ chết, trời đất sẽ không còn mùa hạ. Nếu hoa sợ tàn, cây sẽ không thể kết quả. Nếu quả không chịu rụng, hạt không thể trở về đất.
Cho nên tử không đứng ngoài sinh. Tử là phần kín của sinh. Sinh là phần mở của tử.
Người đời thấy bông hoa tàn thì nói: “Hết rồi.”
Trời đất không nói hết. Trời đất chỉ đổi cách cất giữ sự sống. Từ hoa sang quả. Từ quả sang hạt. Từ hạt xuống đất. Từ đất vào rễ. Từ rễ lại đẩy lên một mầm khác.
Nói đến đây anh chị mới thấy hạng thầy huyền học thất đức cứ chăm chăm báo dăm cái hạn con con, như kẻ tiểu nhân phòng cây gậy trong lưng áo, vặt vảnh. Cuối cùng cả thầy và trò phá nát hết phúc đức còn vương lại.
Một người nhìn từng đoạn sẽ thấy: sinh, tử, được & mất. Người nhìn được vòng Đạo sẽ thấy: chuyển.
Không có gì đứng yên đủ lâu để gọi là tuyệt đối sinh. Cũng không có gì mất đi theo cách tâm trí chúng ta tưởng là tuyệt đối tử. Hình này lui xuống để hình khác có chỗ hiện ra.
Đó là Phản. Lực của thiên đạo
Nên đời người có một số đoạn nhân quả phải đi qua - phải kinh qua - phải đau - phải mất - phải rơi nước mắt - phải bất lực hoàn toàn để hoàn tất nhân quả, để cầu tử mà tìm sinh trong vô lượng luân hồi nghiệp báo. Để không vì cái vụn vắt trước mắt mà đời đời nợ báo khỗ luỵ
Cho nên nếu muốn tìm cửa sinh, nhiều khi phải dám bước tới sát cửa tử. Một đời sống cũ đang chết. Đừng vội cứu. Hãy nhìn kỹ: nó chết vì điều gì?
Có phải vì lực sống đã thật sự hết? Hay vì lực sống không còn muốn ở trong hình thức cũ nữa?
Hai chuyện đó khác nhau rất xa. Một cuộc hôn nhân chết có khi không phải tình nghĩa chết. Chỉ là cách hai người từng sống với nhau đã hết. Một sự nghiệp chết có khi không phải năng lực chết. Chỉ là cái nghề từng chứa được năng lực ấy nay đã quá chật. Một thân phận chết có khi không phải đời người ấy mất đường. Chỉ là cái tên cũ không còn đủ để gọi con người mới đang thành hình.
Nhưng con người thường không phân biệt được sự sống với hình thức đang chứa sự sống. Ta yêu cái bình rồi tưởng cái bình là nước. Bình vỡ, ta tưởng nước mất. Ta yêu một thân phận rồi tưởng thân phận là mình. Thân phận mất, ta tưởng mình mất. Ta yêu một giai đoạn rồi tưởng giai đoạn đó là đời. Giai đoạn ấy kết thúc, ta tưởng đời đã khép. Đó là chỗ con người khổ.
Không phải vì Đạo tàn nhẫn.
Mà vì ta chấp hình mà quên khí, chấp hữu mà quên vô, chấp sinh mà sợ tử.
Lão Tử nói:
“Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô.”
Vạn vật trong thiên hạ sinh từ Hữu. Mà Hữu lại sinh từ Vô. Câu này nếu đọc hời hợt rất dễ biến thành một thứ huyền học mơ hồ.
Nhưng nếu đi sâu, nó nói một điều rất lớn: Mọi cái đã thành hình đều đi ra từ cái chưa thành hình. Một ngôi nhà trước khi thành nhà chỉ là khoảng đất, vật liệu và ý niệm. Một doanh nghiệp trước khi thành doanh nghiệp chỉ là một khả năng. Một đời sống mới trước khi hiện thành hình, thường bắt đầu bằng một khoảng trống mà người trong cuộc rất sợ.
Đó là lý do con người ghét Vô.
Vô giống mất phương hướng. Vô giống chưa biết. Vô giống thất nghiệp. Vô giống ly biệt. Vô giống một buổi sáng thức dậy mà không còn biết mình là ai.
Nhưng trong Đạo, Vô không phải tuyệt đối không có gì. Vô là cái chưa bị đóng vào một hình nhất định. Cho nên cái Vô đáng sợ đối với bản ngã, lại có thể là kho dự trữ lớn nhất của khả năng. Một cái chén đầy không nhận thêm được gì. Một căn phòng kín đặc không còn chỗ đặt chân. Một con người đã chắc chắn mình đúng về mọi chuyện sẽ không còn học được nữa. Một cuộc đời bị lấp đầy bởi danh phận, mục tiêu, kỳ vọng và ánh mắt người khác có khi không còn chỗ cho chính sự sống của mình.
Bởi thế Đạo thường đưa ta về không.
Không danh. Không chắc chắn. Không chỗ dựa. Không câu trả lời. Không hình thức cũ.
Người đời gọi đó là mất. Đạo gọi đó là Hư. Mà Hư thì mới dung. Trống thì mới chứa. Không thì mới có chỗ sinh.
Cho nên: Cầu hữu, phải biết nhìn vào vô. Cầu sinh, phải biết nhìn vào tử. Cầu thành, phải biết nhìn vào chỗ chưa thành.
Đó chính là Cơ của Thiên đạo.
Con người thường giải quyết vấn đề bằng cách đẩy nó về phía mình muốn. Thầy xem tử vi tôi xem tôi cúng cách nào có chồng liền, đẻ con ngay, có việc làm liền, trả nợ được.... cúng cũng được, đeo đồ phong thuỷ, kê đặt thứ trợ lực... lực tham và sân che mờ con mắt đục ngầu lửa nhân thế
Thiên đạo lại không vận hành như vậy. Thiên đạo không “muốn” vạn vật lớn mãi - lượng tử gọi là entropy. Nó khiến cái dư bị tổn, cái thiếu được bù. Lão Tử nói: “Thiên chi Đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc.”
Đạo Trời bớt chỗ thừa mà bù chỗ thiếu, mọi cực đoan đều tự mang trong mình nguyên nhân của điều chỉnh. Cao quá thì mất thế. Đầy quá thì tràn. Cứng quá thì gãy. Mạnh quá mà không biết thu thì sinh phản lực. Giàu quá mà không biết phân thì tụ oán. Quyền quá mà không biết nhường thì thành cô. Biết quá mà không còn biết mình có thể sai thì trí biến thành chấp.
Cho nên cái làm một vật suy chưa chắc đến từ bên ngoài. Rất nhiều khi, mầm suy được sinh ra ngay trong cơ chế làm nó thịnh. Đó là chỗ cực sâu của chữ Phản. Thành công tạo ra tự tin. Tự tin quá sinh chủ quan. Chủ quan làm giảm khả năng nhận biết thay đổi. Khả năng nhận biết giảm thì chính thành công hôm qua bắt đầu sản sinh thất bại ngày mai.
Thịnh sinh suy. Không phải do trời phạt. Mà do chính cấu trúc của thịnh đã đi đến cực. Ngược lại, thất bại lấy đi tự mãn. Tự mãn mất, khả năng học trở lại. Khả năng học trở lại, cơ phục sinh ra. Suy lại chứa thịnh.
Đây là:
“Họa hề, phúc chi sở ỷ; phúc hề, họa chi sở phục.”
Trong họa có nơi phúc nương. Trong phúc có chỗ họa phục. Không phải câu an ủi. Đó là mô tả cơ chế đảo cực.
Vậy người hiểu Thiên đạo nhìn gì?
Không chỉ nhìn cái đang có. Họ nhìn cái đang được sinh ra bên trong cái đang có.
Một người đang thịnh. Người thường hỏi: “Người ấy còn lên nữa không?” Người hiểu Đạo hỏi: “Trong cái thịnh ấy, đã sinh cơ suy chưa?”
Một người đang cùng đường. Người thường thấy “Còn gì nữa đâu?” Người hiểu Đạo hỏi: “Trong chỗ tận ấy, cơ sinh nằm ở đâu?”
Đó mới là cầu tử tìm sinh. Không trốn tử. Không nguyền rủa tử. Không tự ru ngủ rằng tử rồi chắc chắn sẽ sinh. Mà bình tĩnh nhìn xem: cái gì đang kết thúc, vì sao nó phải kết thúc, và khoảng trống nào sự kết thúc ấy đang tạo ra.
Bởi không phải mọi mất mát đều tự động trở thành phúc. Đây là điều phải nói cho rõ. Có người mất rồi tỉnh. Có người mất rồi oán. Có người thất bại rồi đổi. Có người thất bại rồi sống cả đời trong thất bại cũ.
Cửa tử chỉ thành cửa sinh khi con người không ôm xác của hình cũ mà nằm lại cùng nó.
Muốn qua cửa sinh, phải chịu bỏ xác. Đó là chỗ khó nhất. Rắn lớn phải lột da. Cây lớn phải rụng lá. Người lớn phải rụng những định nghĩa cũ về mình. Không ai đi qua Phản mà vẫn giữ nguyên hình.
Cho nên “Phản giả Đạo chi động” cuối cùng không phải học cách quay đầu. Mà là học cách chết đúng chỗ. Để cho cái gì đã hết được hết. Để cái gì đã đầy được vơi. Để cái gì đã cứng được mềm. Để cái gì đã định hình quá lâu được trả về chưa định hình.
Để Hữu trở về Vô.
Không phải nhằm tiêu diệt Hữu.
Mà vì chỉ từ Vô, một Hữu mới mới có thể sinh. Đây chính là vòng lớn:
Vô sinh Hữu. Hữu thành Hình. Hình đến Cực. Cực sinh Phản. Phản dẫn Quy. Quy trở Hư. Hư lại dung Sinh.
Người đứng trong một đoạn gọi đó là:
thành công, thất bại, gặp gỡ, chia lìa, sinh, tử.
Người thấy cả vòng chỉ gọi một chữ: Đạo.
Vì vậy, nếu hỏi tôi : Thầy ơi, có một cách nào giải quyết mọi vấn đề trong đời không?
Có lẽ câu trả lời không phải một kỹ thuật.
Mà là một phép nhìn. Khi một việc bế tắc, đừng vội hỏi Làm sao để nó sống mà phải quán thấy cái gì trong nó đáng chết? Khi một đời sống trống rỗng, đừng vội lấp đầy mà quán thấy khoảng trống này đang chuẩn bị chứa điều gì? Khi một thứ mất đi, đừng lập tức tìm thứ khác thay thế mà quán thấy cái mất này đang trả ta về đâu?
Khi đang ở đỉnh, khi rơi xuống đáy gì cũng phải quán cái cơ chuyển
Đó là nhìn theo Đạo. Đó là xem mệnh
Chứ xem mệnh cái gì mà số giàu, số nghèo, số hai đời chồng, đẻ con tuổi nào hợp tuổi, hèn hạ với Thiên. Có lẽ người tham nhìn Thiên đạo bằng mắt nên chỉ thấy Tượng. Người trải đời nhìn bằng trí nên thấy Thế. Người tĩnh hơn một tầng nhìn được Cơ.
Nhưng người thật sự gần Đạo còn phải nhìn thấy thứ nằm trước cả Cơ:
chỗ mà hữu chưa thành hữu, sinh chưa thành sinh, động chưa thành động.
Đó là Hư.
Là khoảng tĩnh trước khi sự vật đổi chiều. Là chỗ không ai nhìn thấy vì chưa có gì xảy ra.
Nhưng chính ở đó, Thiên cơ đã bắt đầu.
Một mầm cây xuyên đất không bắt đầu vào ngày ta nhìn thấy màu xanh. Nó đã bắt đầu từ lâu trong bóng tối. Một sự suy sụp cũng không bắt đầu ngày nó đổ. Nó đã bắt đầu từ những vết rạn nhỏ khi bên ngoài còn rất thịnh.
Cho nên Thiên đạo không bí mật vì Trời cố giấu.
Nó bí mật vì con người chỉ tin những gì đã thành hình. Trong khi Đạo thường bắt đầu ở chỗ chưa có hình để nhìn. Đó là lý do muốn hiểu Hữu phải nhìn Vô. Muốn hiểu Sinh phải nhìn Tử. Muốn hiểu Thịnh phải nhìn mầm Suy. Muốn hiểu Suy phải tìm cơ Phục.
Muốn hiểu Đạo phải nhìn nơi mọi phân biệt chưa kịp đứng thành hai phía. Đó gọi là Tuệ - Quán
Đến tận cùng, “cầu tử tìm sinh” không phải nghịch lý.
Nó chỉ nghịch với cái nhìn tuyến tính của con người. Trời đất chưa từng xem tử là đối thủ của sinh. Chỉ có con người mới chia đôi rồi yêu một phía, sợ một phía.
Đạo không làm thế.
Đạo để sinh đi vào tử. Để tử mở đường cho sinh để hữu trở về vô. Để vô lại thai nghén hữu để cái đã thành tan ra để cái chưa thành có chỗ xuất hiện.
Cho nên: Cửa tử không phải đối diện cửa sinh. Nhiều khi, chúng là cùng một cánh cửa chỉ khác chiều bước qua.
Ở chiều này, một đời sống cũ kết thúc. Ở chiều kia, một khả thể mới bắt đầu.
Người chỉ thấy cái mất gọi đó là tử. Người thấy được cái đang thành hình phía sau nó mới biết:
Đạo đang phản.
Và có lẽ toàn bộ trí tuệ của con người trước Thiên đạo chỉ còn lại một việc:
Không cưỡng cầu cái đang phải đi. Không hấp tấp gọi cái chưa đến. Không say khi thịnh. Không tuyệt khi suy. Không sợ Hư. Không chấp Hữu.
Đứng giữa sinh diệt mà nhìn cho rõ Cơ đổi chiều. Bởi trời đất chưa từng hết đường. Chỉ có một hình thức nào đó đã đi hết đường của nó.
Phản giả, Đạo chi động. Đi đến tận cùng của Sinh, thấy Tử. Đi đến tận cùng của Tử, thấy Sinh. Đi đến tận cùng của Hữu, thấy Vô. Đi đến tận cùng của Vô, lại thấy khả năng của muôn Hữu.
Đi đến tận cùng của một phía, thấy phía kia đã nằm sẵn trong đó.
Và đi đến tận cùng của cả hai phía không còn sinh để tham, không còn tử để sợ, không còn được để mừng, không còn mất để oán.
Chỉ còn thấy vạn vật đến rồi đi, đầy rồi vơi, tụ rồi tán, thành rồi hoại, hoại rồi lại mở ra một khả thể khác.
Ấy không phải bi quan. Ấy là thấy được một chút Thiên đạo:
Trời đất không giữ một hình nào cả, vì chính nhờ không giữ, nên sinh sinh bất tức.
Lành thay.
~ Hiếu Đức



